Friday, July 28, 2017

Ngày 28-7-2017 Suy Niệm Trong Ngày

Chuyện ngắn - Chuyện Phạm Lãi không cứu được con

CHUYỆN PHẠM LÃI KHÔNG CỨU ĐƯỢC CON

Phạm Lãi, tên tự là Thiếu Bá, là một tướng tài của nước Việt ở Trung Hoa thời Xuân Thu Chiến Quốc.

***

Theo Sử ký, con thứ Phạm Lãi phạm tội giết người, bị giam ở nước Sở. Phạm Lãi quen tướng quốc Sở là Trang Sinh, sai con mang 1.000 dật vàng đi đút lót cho Trang Sinh xin tha con mình. Ông muốn sai đứa con út đi, nhưng người con cả nhất định đòi đi, nếu không sẽ tự sát; vợ ông cũng muốn để người con cả đã chín chắn vì sợ cậu con út còn ít tuổi. Cuối cùng ông đành nghe theo.
Người con cả đến nước Sở gặp Trang Sinh, đưa vàng và ngỏ lời nhờ tha cho em mình. Trang Sinh nhận lời, bảo con Phạm Lãi cứ về, rồi em sẽ được thả mà không được hỏi lý do tại sao. Trang Sinh vốn là người ngay thẳng, định bụng sau khi xong việc sẽ hoàn lại vàng cho Đào Chu công.

Sau đó Trang Sinh vào tâu vua Sở Huệ Vương, mượn điềm thiên văn tai ương để xui vua Sở phóng thích tù nhân, làm điều phúc đức tránh tai hoạ. Vua Sở nghe theo, bèn ra lệnh sẽ thả hết phạm nhân.

Con cả Phạm Lãi chưa về ngay, lại lấy tiền riêng của mình mang theo là 100 dật, nhờ cậy một vị quan khác nước Sở nghe ngóng tình hình. Nghe tin vị đó báo lại là vua Sở sẽ đại xá, anh ta nghĩ rằng đáng lý mình không phải phí vàng đem đút lót mà em mình vẫn được thả, nên quay lại nhà Trang Sinh. Trang Sinh biết ý anh ta muốn đòi vàng, bèn trả lại; nhưng trong bụng thấy xấu hổ vì bị trẻ con nghĩ rằng mình là kẻ tham lam, bèn vào tâu vua Sở rằng:

- Tôi nghe thiên hạ dị nghị rằng đại vương nhận tiền đút lót của Phạm Lãi nên mới đại xá thiên hạ, làm giảm ân đức của người. Vậy xin chém riêng con Phạm Lãi để thiên hạ thấy sự nghiêm minh, nhân đức của đại vương!

Vua Sở nghe theo, bèn sai mang con thứ Phạm Lãi trong ngục ra chém, còn những phạm nhân khác đều tha. Người con cả mang xác em về. Bà vợ khóc than, Phạm Lãi nói:

- Sở dĩ tôi muốn sai thằng út đi, vì khi nó sinh ra, nhà ta đã khá giả; vì thế nó sẽ không tiếc của mang hối lộ người ta. Còn thằng cả sinh ra khi nhà ta còn nghèo khó, nó sẽ tiếc của. Bởi thế lúc nó đi, tôi biết là nó sẽ phải mang xác em nó về.

Phạm Lãi hiểu nhân tình thế thái, không những hiểu từng đứa con, còn hiểu cả Trang Sinh nữa; tuy ông có thể cứu nước Việt nhưng lại không cứu nổi con mình.

Chuyện ngụ ngôn ý nghĩa

CHIỀN CHIỆN MẸ VÀ CON

Chim Chiền Chiện làm tổ trên một cánh đồng lúa mì non. Ngày ngày trôi qua, khi những thân lúa đã vươn cao thì bầy chim con mới nở ngày nào, đã lớn nhanh như thổi. Rồi một ngày, khi lúa những ngọn lúa chín vàng đung đưa trong gió, Bác Nông Phu và những người con đi ra đồng.

"Lúa này bây giờ gặt được rồi đây," Bác Nông Phu nói. "Chúng ta phải kêu cả những người hàng xóm và bạn bè đến giúp cho chúng ta thu hoạch."

Bầy chim Chiền Chiện con trong tổ ngay sát đó nghe vậy hết sức sợ hãi, vì chúng biết rằng chúng sẽ gặp nguy lớn nếu không kịp dời tổ trước khi thợ gặt đến. Khi chim Chiền Chiện Mẹ kiếm ăn trở về, lũ chim con kể lại cho mẹ những gì chúng nghe được.

"Đừng sợ, các con ạ," Chiền Chiện mẹ nói. "Nếu Bác Nông Phu bảo rằng ông ấy sẽ kêu hàng xóm và bạn bè của ông ấy đến giúp, thì đám lúa này cũng còn một thời gian nữa họ mới gặt được.

Vài ngày sau, khi lúa đã quá chín, và khi có gió lay động thân lúa, một loạt các hạt lúa rào rào rơi xuống đầu lũ Chiền Chiện con.

"Nếu không gặt gấp đám lúa này," Bác Nông Phu bảo, "chúng ta sẽ thất thoát đến cả nửa vụ mùa. Chúng ta không thể chờ đợi bạn bè được nữa. Ngày mai chúng ta sẽ bắt đầu tự gặt lấy."

Khi lũ Chiền Chiện con kể lại với mẹ những gì chúng nghe ngày hôm nay, nó bảo:

Thế thì mình phải dọn tổ đi ngay. Khi người ta đã quyết định tự mình làm mà không trông nhờ vào ai khác nữa, thì chắc chắn là họ chẳng trì hoãn gì nữa đâu."

Cả nhà chim tíu tít lo bay tới bay lui dọn tổ đi ngay buổi trưa đó, và đến khi mặt trời mọc sáng hôm sau, lúc Bác Nông Phu và những người con ra đồng gặt lúa, họ chỉ gặp một cái tổ rỗng không.

Lời bàn: Trong cuộc sống, khi đã quyết định tự mình làm việc gì, đừng quá trông mong vào sự giúp đỡ người khác. Tự cứu mình là tốt nhất.

Tri Kiến Giác Ngộ - Minh Triết Trong Đời Sống

XUẤT BẢN KINH 

Tetsugen, một người nhiệt tình với thiền tại Nhật Bản, đã quyết định xuất bản kinh, ở thời đó chỉ có thể có được ở nước Trung Hoa mà thôi. Những cuốn sách được khắc trên những khúc gỗ số bản in ra bảy ngàn cuốn, một công cuộc kinh doanh to lớn.

Tetsugen bắt đầu bằng một cuộc du hành và thu thập những sự quyên cúng cho mục đích này. Một vài người có cảm tình đã đóng góp cho ông trăm miếng vàng, nhưng phần lớn thời gian ông nhận được chỉ là những tiền cắc nhỏ. Ông cảm ơn từng người đóng góp với sự biết ơn bằng nhau. Sau mười năm Tetsugen có đủ số tiền để bắt đầu công việc của ông ta.

Một chuyện xảy ra rằng tại thời điểm đó sông Uji dâng tràn. Nạn đói kém theo sau. Tetsugen lấy tiền qũy mà ông đã thu được, để giúp dân chúng mình.

Cho đến lần thứ ba ông bắt đầu công việc của ông ta, và sau hai mươi năm sự mong mỏi của ông đã mãn nguyện. Bản in khắc mà xuất bản kinh đầu tiên có thể tìm thấy ngày hôm nay ở tu viện Obaku tại Kyoto.

Những người dân Nhật kể cho con cháu họ rằng Tetsugen đã làm ba bộ kinh, và hai bộ đầu không ai thấy được thì vượt hơn hẳn bộ chót

Điều nên biết về phong tục Việt Nam

Một trăm điều nên biết về phong tục Việt Nam
Ai vái lạy ai

Vái lạy là phép xã giao thời xưa, không chỉ dùng khi cúng tế mà người sống cũng lạy nhau..."Đời xưa vua đối với bày tôi, bố vợ đối với chàng rể, người tôn trưởng với kẻ ti ấu đều phải lạy đáp lễ... Đến đời nhà Tần mới đặt ra lễ "tôn quân ti thần", nên thiên tử không đáp lạy bày tôi nữa... Ngaỳ xưa từ quan khanh sĩ trở xuống đều theo cổ lễ mà đáp lễ kẻ ti ấu, nếu kẻ ti ấu (bề dưới) chối từ, mới dùng lễ túc bái đáp lại. Còn vái là nghi thức lúc đã lễ xong....Nước ta xưa kia có chốn công đường có lễ tông kiến, kẻ hạ quan cũng vái bậc trưởng quan... Gần đây những kẻ hiếu sự không biết  xét đến cổ điênr lại cho là lễ của tôn trưởng đối với kẻ ti ấu, còn kẻ ti ấu đối với tôn trưởng không được vái, chỉ lạy xong là cứ đứng thẳng và lùi ra..."(Trích Vũ trung tuỳ bút của Phạm Đình Hổ trang 174).

    Xem đoạn văn trích dẫn trên ta thấy vái lạy là một phép xã giao, không chỉ vái lạy người trên mà người trên cũng vái lạy đáp lễ. Từ lạy nhau chuyền sang vái nhau trong buổi tương kiến, đến nay ta tiếp thu văn hoá Âu Tây vẫn giữ được phép tôn ti (tôn trưởng ti ấu).

    Theo phong tục lễ giáo của ta, bề dưới phải chủ động chào bề trên trước, trẻ chào già trước, trò chào thầy trước. Nếu bề trên không chào lại người dưới, thầy không chào lại trò, tức là không đáp lễ, thì cũng bất lịch sự chẳng khác gì từ chối người khác, làm cho người đưa tay trước ngượng ngùng và bất bình. Không biết vái, chào lại người khác là đã tự làm mất đi phong cách lịch duyệt của chính mình.

    Chúng tôi xin trích kể lại câu chuyện "Tam nguyên Tổng đốc lạy ông Nhiêu".

Ông Nhiêu Chuồi người cùng làm ăn mừng lên thọ 80 Cụ Tam Nguyên cũng tới mừng. Khi làm lễ chúc thọ, cụ Tam cũng như mọi người lễ ông Nhiêu hai lễ rất kính cẩn. "Ai đời cụ Tam Nguyên Tổng Đốc lại lạy một người dân thường. Ông Nhiêu vội vàng sụp xuống lạy tạ. Cụ Tam đỡ ông Nhiêu dậy, ôn tồn nói: Ta lễ là lễ cái thiên tước của ông Nhiêu đấy..."

(Trích Nguyễn khuyến và giai thoại _ Bùi. V. Cường biên soạn_Hội VHNT Hà Nam Ninh xuất bản- tr 123)

Chuyện cười trong ngày

Màu đặc biệt, ngày cũng đặc biệt

Một trọc phú bước vào salon ôtô, vênh váo nói:

- Hãy chọn cho tôi một chiếc BMW thật đặc biệt, không phải màu xanh, đỏ, tím, vàng, nâu, đen hoặc trắng...

- Đồng ý, chúng tôi sẽ đặt cho ông chiếc xe đó, ông quay lại sau nhé!

- Nói chính xác là hôm nào đi!

- Hôm nào cũng được, trừ các ngày thường, ngày lễ và chủ nhật.

Thursday, July 27, 2017

Ngày 27-7-2017 Suy Niệm Trong Ngày

Chuyện ngắn - Chuyện tình cờ hay điều kì diệu

CHUYỆN TÌNH CỜ HAY ĐIỀU KÌ DIỆU?

Nhưng dù sao, thì anh ấy cũng hứa là sẽ về kịp để dẫn chị tôi bước vào nhà thờ thay bố tôi, bố đã mất từ mấy năm trước. Anh ấy còn đùa là anh ấy rất mong đến ngày đám cưới, vì thực ra, anh ấy muốn "đem cho" chị Patsy đi từ hồi chị ấy mới... 3 tuổi cơ!

***

Chị Patsy, chị gái thứ hai của tôi, sắp làm đám cưới. Thế là cả tuần trước tôi chạy như con thoi giữa tiệm áo cưới đến tiệm hoa, rồi từ tiệm hoa đến ban tổ chức lễ cưới ở nhà thờ...

Mẹ vẫn phải đi làm, anh cả tôi lại đang đi công tác. Nhưng dù sao, thì anh ấy cũng hứa là sẽ về kịp để dẫn chị tôi bước vào nhà thờ thay bố tôi, bố đã mất từ mấy năm trước. Anh ấy còn đùa là anh ấy rất mong đến ngày đám cưới, vì thực ra, anh ấy muốn "đem cho" chị Patsy đi từ hồi chị ấy mới... 3 tuổi cơ!
Để tiết kiệm ít tiền, tôi đi kiếm hoa từ mấy người bạn mà nhà có những cây hoa mộc lan lớn. Những bông hoa màu trắng kem với hương thơm ngọt ngào và lá xanh bóng sẽ tạo ra một bó hoa cô dâu tuyệt đẹp và nổi bật. Đêm trước hôm đám cưới, tuy mệt nhưng tôi vẫn thở phào vì mọi việc đã được chuẩn bị chu đáo. Chị tôi sẽ có một đám cưới vô cùng đáng nhớ!

Thế rồi ngày trọng đại cũng đến. Trong khi mấy người bạn giúp chị Patsy chỉnh váy cưới, thì tôi đến nhà thờ trước để xem mọi chuyện đã thật sự ổn chưa.

Khi mở cánh cửa nhà thờ, phả vào chúng tôi là một luồng không khí nóng hầm hập, tôi suýt nữa thì ngã lăn đùng ra ngất, không phải vì tôi chịu nóng kém, mà là vì cảnh tượng tôi đang nhìn thấy - tất cả những bông hoa mộc lan màu trắng kem xinh đẹp đã trở nên... đen xỉn! Đêm qua nhà thờ bị cắt điện, hệ thống điều hoà không khí không hoạt động, và trong suốt một đêm nóng bức, những bông hoa đã héo rũ và chết cả!

Tôi nhìn những bông hoa mà muốn khóc. Nhưng tôi không có thời gian để khóc. Tôi chỉ cón biết mong bốn điều: những bông mộc lan trắng kem sẽ xuất hiện, tôi sẽ đủ can đảm để kiếm được chúng trong một khu vườn nào đó ở quanh đây, tôi sẽ được an toàn dù bất kỳ con chó dữ dằn nào có xông ra đớp vào chân, và một người tử tế nào đó sẽ không nện cho tôi một trận khi tự nhiên tôi đòi ngắt trụi cây hoa mộc lan hoàn hảo của họ.
Khi vừa ra khỏi nhà thờ được một chút, tôi chợt nhìn thấy xa xa có những cây hoa mộc lan. Tôi vội vã chạy ngay lại gần ngôi nhà đó... trước hết là không có chó! Tôi gõ cửa và một người đàn ông khoảng hơn 60 tuổi ra mở. Vẫn ổn... ông ấy chưa nổi điên, cũng không cầm theo cái gậy nào. Sau khi nghe tôi "trình bày hoàn cảnh", ông ấy mỉm cười: "Ta rất vui được giúp cháu!".

Nói rồi ông ấy lấy ra ngay một chiếc thang, bắc lên và cắt những bông mộc lan lớn và đưa xuống dưới cho tôi. Chỉ vài phút sau, tôi đã có một ôm hoa tươi đẹp tuyệt.

- Cảm ơn ông, ông đã cứu em gái của một cô dâu đấy ạ! - Tôi nói.

- Không - Ông ấy đáp - Cháu không hiểu đâu... Chính ta mới phải cảm ơn cháu.

- Về cái gì cơ ạ? - Tôi ngạc nhiên hỏi lại.

Vừa trèo xuống khỏi thang, người đàn ông vừa kể:

- Vợ ta vừa mất vài tháng trước... Bà ấy là người ta yêu thương nhất và cũng yêu thương ta nhất - Tôi thấy ông ấy lau nước mắt khi kể - Bây giờ ta còn lại có một mình. Suốt nhiều năm qua, lúc nào ta cũng cần bà ấy và bà ấy cũng cần đến ta. Nhưng bây giờ thì không ai cần đến ta nữa. Sau khi bà ấy mất, cũng chẳng ai đến thăm ta cả. Sáng nay, ta ngồi một mình và nghĩ: "Ai cần đến ông già 67 tuổi này? Ai thèm nhớ đến sự tồn tại của ta?". Và ta tự trả lời là "không ai cả". Nhưng đúng lúc đó thì cháu gõ cửa, và câu đầu tiên cháu nói với ta là: "Ông ơi, cháu cần ông giúp".
Tôi đứng há cả miệng ra nghe, không nói được lời nào.

Ông ấy mỉm cười:

- Cháu có biết ta nghĩ gì khi đưa cho cháu những bông hoa mộc lan này không?

- Không ạ.

- Ta biết rằng ta vẫn được nhớ đến. Có những người vẫn cần những bông hoa của ta. Có thể ta sẽ... mở một cửa hàng hoa nhỏ ở đây. Vườn sau của ta còn rất nhiều hoa đấy... Cháu nghĩ như thế có tốt hơn không?

Tôi quay lại nhà thờ, thấy trong lòng lấp lánh vui, không chỉ vì tôi đã kiếm được một ôm hoa tươi, mà còn vì biết rằng một cách vô tình, mình đã giúp được một người đang cô độc.

Tôi cứ nghĩ, vào ngày đám cưới của chị Patsy, nếu ai đó đề nghị tôi đi an ủi một người đau khổ, hẳn tôi sẽ nói: "Thôi nào, hôm nay là đám cưới của chị tôi, ngày trọng đại đấy! Chẳng có cách nào mà tôi lại đi giúp đỡ ai khác được đâu". Nhưng cuộc sống vẫn có cách của riêng mình, dù là qua những bông hoa héo, để làm nên những điều tình cờ nhưng kỳ diệu.

Chuyện ngụ ngôn ý nghĩa

MÈO VÀ CHUỘT GIÀ

Có lần vì một con Mèo luôn để mắt rình, nên Chuột hầu như chẳng dám thò ra khỏi hang một cọng ria vì sợ bị Mèo bắt được ăn tươi nuốt sống nó. Con Mèo đấy dường như có mặt ở khắp mọi nơi, luôn sẵn sàng móng vuốt để vồ mồi ngay lập tức. Vì lũ Chuột cứ nép mình sát trong hang, Mèo thấy rằng nó phải dùng mẹo mới bắt được chuột. Một hôm, nó leo lên một cái kệ và treo mình vào đấy, đầu chúi xuống đất, như thể đã chết, một sợi dây thừng cột vào chân treo lủng lẳng lên kệ.

Khi lũ Chuột lén nhìn ra và thấy Mèo bị treo như thế, chúng nghĩ rằng Mèo đã bị chủ phạt treo vì đã làm điều sai trái gì đấy. Ban đầu hết sức rụt rè, chúng thò đầu ra và cẩn thận đánh hơi tất cả khu vực xung quanh. Nhưng chẳng có gì động tịnh, thế là cả một đoàn quân chuột hớn hở chui ra để ăn mừng Mèo đã chết.

Ngay khi đó, Mèo buông chân khỏi thừng, và trước khi lũ Chuột hết bàng hoàng vì quá ngạc nhiên, nó đã kết liễu cuộc đời của bốn năm chú chuột.

Bây giờ Chuột nằm nhà giới nghiêm nghiêm ngặt hơn bao giờ hết. Nhưng Mèo, vẫn thèm ăn thịt Chuột, còn lắm mưu nhiều kế khác. Nó lăn mình nó vào bột cho đến khi nhìn nó y như một cục bột, nó nằm trong thùng bột chỉ mở một mắt ra canh Chuột.

Hoàn toàn an tâm vì chẳng còn thấy Mèo đâu, lũ Chuột chẳng mấy chốc lại thò đầu ra. Chỉ một tí nữa thôi tưởng chừng như mèo đã vớ được một con Chuột con bụ bẫm thì bỗng Chuột Già, đã từng bị Mèo vồ hụt và thoát bẫy nhiều lần, thậm chí đã mất đứt cái đuôi vào một trong những lần ấy, đứng ở một nơi khá xa tại một cái lỗ chân tường của hang nó sống.

Cẩn thận đấy!" nó la lên. "Đó có thể là một đống bột ngon, nhưng trông nó lại rất giống con Mèo. Dù nó là gì chăng nữa, thì cứ tránh xa cho an toàn là khôn ngoan nhất."

Lời bàn: Người khôn không để mắc lừa đến lần thứ hai.

Tri Kiến Giác Ngộ - Minh Triết Trong Đời Sống

HÃY MỞ KHO CHÂU BÁU CỦA ÔNG 

Daiju đến thăm thiền sư Baso ở Trung Hoa. Baso hỏi: "Ông bạn đang cố gắng đạt tới điều gì?"

"Sự giác ngộ," Daiju trả lời.

"Ông bạn có một nhà châu báu của riêng bạn. Tại sao bạn còn tìm kiếm ở bên ngoài?" Baso hỏi.

Daiju hỏi: " kho châu báu của tôi ở đâu?"

Baso trả lời: "Điều gì mà bạn đang hỏi thì là kho châu báu của riêng bạn."

Daiju đã giác ngộ! Từ đó về sau ông cố thuyết phục những người bạn của mình: "Hãy mở kho châu báu của riêng mình và dùng xử dụng những châu báu này.

Điển Hay Tích Lạ - Mấy cành Dương Quan

Mấy cành Dương Quan

Trong tác phẩm "Đoạn trường tân thanh" của cụ Nguyễn Du, lúc Kiều tiễn Thúc Sinh trở về quê cũ huyện Vô Tích, tỉnh Giang Tô với vợ cả là Hoạn Thư, có câu:
Tiễn đưa một chén quan hà,
Xuân đình thoắt đã dạo ra cao đình.
Sông Tần một dải xanh xanh,
Loi thoi bờ liễu, mấy cành Dương Quan.
"Xuân đình", "Cao đình" chưa từng tìm được nguyên ngữ, nhưng theo Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu thì tạm cho rằng đại khái "Xuân đình" là chỗ hợp vui; "Cao đình" là chỗ chia rẽ. Cổ thi có câu: "Cao đình tương biệt xứ" nghĩa là: "Chỗ ở biệt nhau ở cao đình".
Ông Hồ Đắc Hàm cho rằng: "Núi Cao đình" ở tại tỉnh Chiết Giang, phía đông bắc Hàng Châu, chính là một chỗ người ta thường qua lại nghỉ chân và làm nơi tiễn biệt nhau. Đường phú có câu: "Đình cao hề mộc diệp lạc", nghĩa là "Chốn Cao đình kia lá xanh rụng".
Thời xưa, người ta tiễn nhau thường bẻ cành liễu đưa cho người đi. Dương Quan là một cửa ải ở biên giới tỉnh Thiểm Tây. Đường thi có bài "Tống Nguyên Nhị sứ An Tây" của Vương Duy là một bài thơ tiễn biệt rất đặc sắc. Vua Đường Huyền Tông lấy vào Nhạc phủ phổ thành một bài hát gọi là "Khúc Dương Quan tam điệp" (ba dịp Dương Quan) dùng để hát khi tiễn biệt nhau.
Dưới đây là bài "Tống Nguyên Nhị sứ An Tây" (Đưa Nguyên Nhị đi sứ An Tây) của thi hào Vương Duy:
Vị thành chiêu vũ ấy khinh trần,
Khách xá thanh thanh liễu sắc tân!
Khuyến quân khánh tận nhất bôi tửu,
Tây xuất Dương Quan vô cố nhân.
Nghĩa:
Trời mai mưa ướt Vị Thành,
Xanh xanh trước quán, mấy cành liễu non.
Khuyên người hãy cạn chén son,
Dương Quan tới đó không còn ai quen.
(Bản dịch của Ngô Tất Tố)
Dương Quan là tên một cửa ải nhưng dùng nghĩa bóng là chỉ nơi tiễn biệt. Trong kinh Thi cũng có câu:
Trường đoạn Dương Quan,
Chiêm vọng phất cập
Trữ lập dĩ khấp.
Nghĩa:
Dương Quan đứt ruột
Khuất bóng người đi,
Dừng chân ứa lệ.

Chuyện cười trong ngày

Xem dở buổi hát..

Một anh, tính hay ngủ ngày, bỏ mặc mọi việc trong nhà cho vợ. Một hôm, ăn cơm trưa xong, anh ta ngả lưng nằm rồi ngủ cho đến chiều. Chị vợ đến lay dậy. Anh ta nổi giận mắng:

- Người ta đang xem dở buổi hát thì lại đến quấy rầy!

Thì ra anh ta đang nằm chiêm bao xem hát. Người vợ trả lời:

- Bấy giờ mới xế chiều, buổi hát hãy còn cứ nằm xuống mà xem cho hết!

Wednesday, July 26, 2017

Ngày 26-7-2017 Suy Niệm Trong Ngày

Truyện cổ tích Việt Nam - Sự tích con cóc

Sự Tích Con Cóc

Trong nhà nọ có hai chị em, mỗi người một tính nết. Người chị xinh đẹp, tham lam và lười nhác. Người em bị què tay, nhưng rất siêng năng làm lụng.

   Người chị cậy khoẻ, cậy xinh, sáng trưa chiều tối chỉ luẩn quẩn nào gương nào lược. Chơi bời vô độ nên chẳng bao lâu người chị đã gầy khô hơn que củi mặt mũi héo tóp như một xác chết. Người em mang tật: Tay phải co quắp từ thửa lọt lòng, mọi việc như cầm dao, cầm cầy, vốc cơm ăn cũng nhờ ở bàn tay bên trái. Quanh năm chỉ có một bộ váy áo chăn rách như tổ đỉa.

   Một hôm nọ, trời làm lũ lụt lớn, nước ngập hết làng, cây cỏ lúa, ngô hết chỗ cắm chân, người em bèn ngồi ôm lấy chóp núi đá, kêu trời gọi đất. Mệt quá, người em ngủ thiếp đi ba ngày bẩy đêm liền, thấy em ngủ lặng, người chị ngỡ là em đã chết, bèn cưỡi bè chuối chèo đi, bỏ mặc em trên chóp núi. Người em mở mắt choàng dậy thì nước vẫn chưa rút. Ðợi khi mặt trời đến người em liền kêu to:

 - Ơi, ông trời!

   Ông trời dừng lại hỏi: - Cháu muốn gì?

   Người em nói: - Ông cứu lấy chị cháu, chị cháu bị nước lũ nhận chìm mất rồi. Ông cứu được, cháu muốn chị ấy lấy được ông Mặt Trời làm chồng.

   Ông mặt trời cười bảo:

 - Chị cháu đến nhà tiên ông rồi. Cháu hãy gieo hạt này ở chóp đá của cháu thì cháu muốn cái gì cũng được cái ấy.

   Nói xong, ông Mặt Trời lại lặn đi. Cũng lúc ấy người chị chèo bè chuối đến gõ cửa nhà Tiên ông, bè chuối giạt lên sân thì người chị hò hét:

 - Cho tôi gặp chàng tiên đẹp nhất!

   Tiên ông nhìn ra thấy có người con gái lạ, lại đòi gặp tiên, liền mời vào nhà. Người chị nói luôn:

 - Tôi không lấy ông đâu, ông già và xấu quá, cho tôi lấy chàng tiên đẹp nhất.

   Tiên ông gật đầu bảo: - Ừ!

   Nói rồi, Tiên ông khoát tay một cái, lập tức từ trong nhà có một chàng trai đi ra, nắm lấy tay người chị. Chàng trai là dòng họ của Cóc tía, cho nên tiên ông đặt tên chàng là chàng Cóc tía. Từ đấy, vợ chồng người chị sống cuộc sống sung sướng trong cảnh tiên.

   Người em gieo cái hạt của ông mặt trời cho vào kẽ đá, nàng lấy bàn tay trái của mình vơ rêu lá, giật cả vạt áo mình phủ cho hạt được nguyên lành. Chẳng bao lâu từ kẽ đá vươn ra một cây bầu, quả to như cái sọt. Nàng lăn bầu xếp ra rìa núi. Núi bầu cứ nối nhau, nối nhau mọc ra, vùng nước lũ cứ thu hẹp dần nhường chỗ cho bầu ở. Một ngày kia, người tiên thấy có nhiều núi nhỏ lên chật cả gầm trời. Vợ chồng Cóc Tía nhìn xuống thì thấy người con gái cầm dao bằng tay trái cứ quần quật bổ bầu ra chia cho mọi người. Người chị nhận ra kẻ ngồi với núi bầu là đứa em của mình, lòng ghen ghét lại nổi lên. Mụ liền kéo tay chồng bảo:

 - Cái con què đó còn sống, nó có nhiều bầu kia kìa.

   Chàng Cóc Tía chưa kịp hỏi thêm đầu đuôi ra sao thì mụ đã nắm tay chồng bảo nhảy ào xuống các chỏm núi bầu. Nhẩy khỏi nhà trời, vợ chồng hắn hiện nguyên hình một đôi Cóc Tía. Ðôi vợ chồng Cóc Tía ngồi chồm chỗm trên một quả bầu. Người em hỏi:

 - Cóc muốn gì?

   Cóc nói: - Ta muốn nhận mày là em gái.

   Người em lắc đầu: - Chị ta lên trời lâu rồi.

   Cóc bảo: - Tao là chị đây, còn đây là anh rể của mày.

   Người em ngồi nghe Cóc Tía vợ kể lại chuyện cũ gặp lũ to, chèo bè chuối lên trời ra sao... Nghe mãi rồi tin lời Cóc là phải. Người em liền nhận anh chị và cho ở chung trên ngọn núi cùng chăm nom dây bầu với mình. Khi ấy, ông Mặt trời đi qua, dừng lại nói với người em:

 - Anh chị đã về với cháu đấy.

   Người em nói: - Vâng.

   Ông mặt trời bảo: - Bây giờ ta cho cháu một người chồng, cháu hãy bổ quả bầu xấu nhất ra thì gặp chồng.

   Người em liền bổ quả bầu vặn vẹo xấu xí, vỏ bầu tách ra thì có một chàng trai khôi ngô, tuấn tú hiện ra nhận là chồng của người em, Hai vợ chồng người em lại lấy quả bầu xếp bậc xuống thấp dần. Họ xếp quả bầu đến đâu thì mực nước lui xuống đến đó. Ðồng ruộng làng mạc lại hiện về như xưa. Bà con làng xóm trở về làm ăn sinh sống yên ấm.

   Cũng từ đấy vợ chồng Cóc Tía được người em đưa xuống cùng ăn ở, làm lụng với dân bản. Người chị không còn ghen ghét với em gái như xưa nữa.
HẾT

Chuyện ngụ ngôn ý nghĩa

DÊ CON NHANH TRÍ

Trong ngôi nhà kia có Dê mẹ và một chú Dê con. Một hôm, trước khi ra đồng cỏ, Dê mẹ dặn Dê con:

- Con ở nhà cho ngoan, mẹ đi ra đồng ăn một ít cỏ tươi để có nhiều sữa ngọt cho con bú. Ai gọi cửa cũng đừng mở nhé! Nếu không thì con Sói vào ăn thịt con đấy!

Dê con vâng lời mẹ và hỏi thêm:

- Thế mẹ về thì làm sao con biết mà mở cửa?

Dê mẹ khen con thông minh và dặn con:

- Lúc nào mẹ về, mẹ sẽ nói: "Con chó Sói hung ác, đuổi cổ nó đi", thế là con mở cửa cho mẹ.

Nhưng con Sói hung ác nấp gần đó đã nghe Dê mẹ dặn Dê con như thế rồi. Dê mẹ vừa đi khuất, con Sói hung ác đã chạy lại gõ cửa: "Cạch, cạch , cạch! Con chó Sói hung ác, đuổi cổ nó đi", Dê con ở trong nhà, nghe tiếng gõ cửa vội vàng chạy ra. Nghe đúng câu mẹ dặn, nó định mở cửa nhưng nghe tiếng ồm ồm, không giống tiếng mẹ, Dê con liền nghĩ ra một kế và bảo:

- Mẹ đấy ư? Sao hôm nay tiếng mẹ lại ồm ồm thế?

Con Sói sợ bị lộ nhưng vẫn khôn ngoan trả lời:

- Mẹ ra đồng bị cảm gió nên khản tiếng đấy.

Dê con vẫn còn ngại:

- Mọi lần mẹ về vẫn thò chân vào khe cửa cơ mà! Chân mẹ thon thon, con nhìn là biết ngay!

Con Sói lại tìm cách chống chế:

- Mẹ giẫm phải gai, sưng vù lên, thò vào khe cửa không vừa nữa. Con mở cửa cho mẹ vào! Dê con cúi sát xuống đất nhìn qua khe cửa. Nó thấy cái chân lem luốc, đen sì. Nó bảo chó Sói:

- Thôi, anh Sói ơi! Chính anh rồi! Anh cút đi kẻo mẹ tôi về húc cho anh vỡ bụng ra đấy! Chân anh đen sì thế kia kìa! Ai còn lạ gì nữa! Bị lộ, con Sói vội vàng bỏ đi. Nhưng nó vẫn nghĩ cách lừa Dê con. Nó chạy ngay đến một cửa hàng bánh. Chờ lúc người làm bánh đi vắng, nó liền thò chân vào thùng bột, bột dính đến đầu gối. Xong xuôi, nó chạy về gọi Dê con:

- Cạch cạch cạch! Con chó Sói hung ác, đuổi cổ nó đi!

Dê con vội chạy ra, ngó qua khe cửa, lần này nó thấy rõ ràng 4 chân trắng. Thôi, đích là mẹ đã về! Nhưng cái mũi thính của nó lại ngửi thấy mùi gì hôi hôi chứ không thơm như mùi sữa của mẹ. Dê con ngần ngại, khe khẽ bắt ghế trèo lên nghếch cổ nhìn qua khe tường. Nó thấy hai cái tai lem luốc và nhọn hoắt. Thôi đúng là tai Sói rồi, Dê con gọi chó Sói và bảo:

- Tai anh đen và nhọn, chẳng giống tai mẹ tôi đâu! Anh Sói hung ác ơi, cút ngay đi kẻo mẹ tôi về, mẹ tôi lại húc cho anh vỡ bụng đấy! Sừng mẹ tôi nhọn lắm.

Con Sói sợ bị lộ, vội vàng bỏ chạy. Nó cố hết sức tìm cách giấu đôi tai lem luốc và nhọn hoắt mà không được. Nó chưa dám trở lại thì Dê mẹ đã về gõ cửa "Cạch, cạch, cạch! Con chó Sói hung ác, đuổi cổ nó đi!"

Dê con nghe đúng tiếng mẹ. Nó cúi nhìn qua khe cửa, đúng là chân mẹ. Nó trèo lên nhìn qua khe tường, đúng là tai mẹ. Nó mở ngay cửa cho mẹ vào và kể chuyện con Sói đến lừa cho mẹ nghe. Dê mẹ ôm con vào lòng và khen con giỏi.

Dê mẹ cho Dê con bú một bữa sữa thơm và ngọt.

Nguồn: Sưu tầm

Tri Kiến Giác Ngộ - Minh Triết Trong Đời Sống

KHÔNG CÓ GÌ HIỆN HỮU 

Yamaoka Tesshu, khi còn là một thiền sinh trẻ, đến thăm hết thầy này đến thầy nọ. Ông đến thăm Dokuon ở Shokoku.

Muốn tỏ lộ sự chứng ngộ của mình, ông nói: "Tâm, Phật, và chúng sinh, cuối cùng không hiện hữu. Bản chất thực sự của mọi hiện tướng là không. Không có thực chứng, không có si mê, không có hiền triết, không có phàm tục. Không có ban phát và không có gì để thu nhận."

Dokuon, đang yên lắng hút thuốc, không nói gì. Bỗng nhiên ông đập mạnh vào Yamaoka bằng cái ống điếu trúc của ông. Chuyện đó làm cho chàng trẻ tuổi rất giận dữ.

"Nếu không có gì hiện hữu," Dokuon hỏi, "vậy thì cơn giận này từ đâu đến?"

Những Ngôi Chùa Cổ - Việt Nam

Chùa Hội Linh – Cần Thơ

chùa hội linh


Chùa nằm trong một con hẻm ở số 314/36 đường Cách mạng Tháng Tám (cách lề đường khoảng 200 m), thuộc phường Bùi Hữu Nghĩa, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ. Chùa Hội Linh còn có tên gọi khác là Hội Linh Cổ Tự. Chùa thuộc dòng Lâm Tế tông – một trong hai tông của Thiền tồn tại ở Nhật Bản.

Chùa Hội Linh được Hòa thượng Thích Khánh Hưng (? – 1914) dựng vào ngày rằm tháng 2 (âm lịch) năm Đinh Mùi (1907), trên phần đất do ông Phạm Văn Bường (pháp danh Thông Lý) và bà Nguyễn Thị Tám (pháp danh Thông Ngọc) cúng dường. Ban đầu, chùa được cất đơn sơ bằng tre lá, và có tên là Hội Long tự. Vì chùa nằm ở ngọn một con rạch nhỏ, nên còn được gọi là chùa Xẽo Cạn.
Sau khi Hòa thượng Khánh Hưng viên tịch (1914), Hòa thượng Thích Hoằng Đạo (1878 – 1922) kế vị trụ trì, và đã cho xây dựng lại ngôi chùa ngay năm đó, với vật liệu kiên cố (gạch, ngói) và đổi tên là Hội Linh Tự (về sau được gọi là Hội Linh Cổ Tự, khi chùa tồn tại đã lâu).

Chùa có tổng diện tích khoảng 6.500 m², với đầy đủ các hạng mục như: cổng tam quan, chánh điện, hậu đường, giảng đường,….

Xung quanh chùa là dãy tường rào tạo hình cánh cung, có 3 cái cổng (một chính và hai phụ). Cổng chính vươn ra phía trước, có 2 lớp mái, và trên nóc có gắn “lưỡng long tranh châu’ bằng đất nung màu xanh. Trên nóc các cổng đều được lợp mái ngói âm dương màu xanh, và đều có đôi câu đối bằng chữ Hán đắp nổi.

Sau cổng chính là ao sen hình bán nguyệt rộng khoảng 25 m², xung quanh trồng những cây tràm liễu. Giữa ao có tượng đài lộ thiên Quán Thế Âm Bồ Tát cao gần 3 m. Cổng phụ bên trái là lối đi chính vào chùa. Bên trái có các Bảo tháp, là nơi yên nghỉ của các cố Hòa thượng từng làm Trụ trì chùa. Bên phải là một khoảng sân khá rộng. Ở đây có miếu Ngũ hành bên trái, Thổ thần bên phải, ở giữa trồng nhiều hoa kiểng.

Chánh điện chùa rộng 288 m², nóc cao hơn 9 m, có 2 cửa chính đi vào. Ở mặt tiền, phần trên là ba gian cổ lầu, có đặt bộ tượng A Di Đà Tam Tôn. Từ ngoài nhìn vào: Phật A Di Đà ở giữa, Bồ Tát Đại Thế Chí ở bên trái, Bồ Tát Quán Thế Âm ở bên phải. Trên mái chia làm 3 nóc được lợp bằng vật liệu xi măng đúc thành hình vảy cá, nóc giữa mái tạo dáng tròn cạnh lục giác, trên đỉnh là hình búp sen, các đầu đao gắn cách điệu dây lá; 2 nóc hai bên đỉnh là bầu rượu, mái tạo hình phẳng cạnh tứ giác uốn cong lên, các đầu đao cũng gắn cách điệu dây lá.

Điện thờ chính có 3 gian nhỏ, bên trong tôn trí nhiều tượng Phật theo các cấp bậc rất uy nghi. Tại 3 gian thờ, có treo 3 bức hoành phi khắc bằng chữ Hán ở giữa là “Hội Linh Tự”, bên trái “Tam vô tư địa”, bên phải “Thưởng thiện phạt ác”.

Gian thờ chính ở giữa, phía trước có khung bao lam sơn son thếp vàng, chạm khắc cây, hoa, lá, rồng, phụng, hưu…, và hai bên có 2 câu liễn đối bằng chữ Hán. Vị Phật được thờ chính ở đây là Phật A Di Đà. Gian bên trái thờ Bồ Tát Đại Thế Chí (thờ chính), và gian bên phải thờ Bồ Tát Quán Thế Âm (thờ chính). Ngoài ra, ở đây còn có nhiều tượng thờ khác như: Phật Thích Ca, Địa Tạng Bồ Tát, Hộ Pháp, thiên tướng, v.v…

Ở giữa chánh điện còn có pho tượng Di Lặc Bồ Tát được tạo tác theo tư thế ngồi, cao 2,5 m. Phía sau lưng Đức Di Lặc là tháp đèn Dược Sư có 49 ngọn đèn. Tháp đèn được làm bằng danh mộc gồm 7 tầng, mỗi tầng 7 ngọn đèn và đều có một vị Phật Dược Sư an ngự. Phía sau tháp đèn là một khoảng trống nơi hành lễ của sư trụ trì. Đối diện tượng Di Lặc là bàn thờ Phật Thích Ca ngồi trên tòa sen. Ngoài ra trên bàn còn có các tượng: Vi Đà Hộ pháp, Tiêu Diện Đại Sĩ, Ngọc Hoàng Thượng đế, Nam Tào và Bắc Đẩu.

Phía sau 3 gian thờ chính là một gian thờ nhỏ khác thờ Hậu Tổ. Ở Giữa đặt tượng thờ Tổ Sư Đạt Ma, bên phải và bên trái thờ các vị tiền bối hữu công hộ trì Tam bảo. Trên cả 3 bàn thờ xếp nhiều bài vị của các cố Hòa thượng từng trụ trì bổn tự và các tiền bối đã quá vãng.
Nối tiếp chánh điện, là hậu đường rộng 144 m², ở giữa đặt bàn thờ Tổ quốc có ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nơi này còn được dùng làm nơi tiếp khách.

Liền theo đó là giảng đường, là nơi giảng kinh và thuyết pháp…Ở gian giữa có bàn thờ Phật Mẫu Chuẩn Đề. Ở gian hai bên, có bàn thờ di ảnh Hòa thượng Hoằng Đạo (trái) và Hòa thượng Pháp Thân (phải).

Ngoài các giá trị về kiến trúc nghệ thuật, trong chùa còn lưu giữ hơn trăm pho tượng lớn nhỏ rất có giá trị, bằng nhiều chất liệu khác nhau: đồng, gỗ, xi măng, thạch cao…Riêng tượng Giám Trai là một tác phẩm điêu khắc độc đáo. Ngoài ra, các hiện vật quý trong chùa còn có chuông đồng, mõ, bộ binh khí (16 cái) và bộ bàn ghế gỗ cẩn xà cừ.

Chuyện cười trong ngày

Đi trễ

Đã vào tiết học, keli lúc này mới bước vào cổng trường. bác bảo vệ kêu lại và hỏi:

- Tại sao con đi trễ?       

Keli:

- Ước mơ của con là làm thầy hiệu trưởng

Bảo vệ:

- Tôi hỏi tại sao lại đi trễ mà?

Keli:

- Vậy bác khi nào thấy thầy hiệu trưởng đi sớm chăng????

Tuesday, July 25, 2017

Ngày 25-7-2017 Suy Niệm Trong Ngày

Chuyện ngắn - Gậy ông đập lưng ông

GẬY ÔNG ĐẬP LƯNG ÔNG

Án Tử là tướng quốc nước Tề. Sắp sang nước Sở. Vua nước Tề mới gọi Án Tử đến, mà phán rằng:

– Nay ngươi đem chuông đi đánh xứ người, thì phải đánh thật kêu. Chớ không thể đánh qua loa mà ôm điều hối hận.

Đoạn, dzô một hớp bồ đào mỹ tữu, rồi tiếp:

– Quen sợ mặt. Lạ sợ áo quần. Nay người vì chính sự đi xa, thì phải chú tâm vào cái... hàng cái hiệu. Chớ đừng lưa thưa vài ba áo sống. E làm trò cho thiên hạ cười chê, thì dẫu tắm trăm sông cũng khó lòng rửa sạch...

Nói rồi, liền ban cho lụa là gấm vóc, cùng mớ kim ngân phòng khi hữu sự. Án Tử lạy tạ rồi thu lấy quay về. Đến nơi, vợ chạy ra tận cổng. Đón vào. Tự tay khui một lon bia, rồi nhỏ nhẹ hỏi rằng:

– Chưa tới ngày sinh nhật. Cũng không phải đến ngày hai đứa... rụng vào nhau. Hà cớ chi chàng lại mua quà nhiều như vậy?

Án Tử lẹ làng đáp:

– Mua đâu mà mua. Đây là quà vua ban cho ta, đặng sửa soạn cho xôm trước giờ sang nước Sở. Chớ có đâu như bà cứ bình tâm... tứ sắc, nên chẳng lý gì đến cái mặc của chồng con, thành thử đã bao năm cũng mình trơn bốn bộ!

Vợ Án Tử nghe thế, mới xụ mặt xuống, mà bực dọc nói rằng:

– Cây có cội. Nước có nguồn. Chim có tổ. Người có... thê! Mà giả như lang quân không muốn sống cùng em nữa – thì nói mẹ nó ra – Chớ đừng mượn gió bẻ măng mà khổ đau người đang hận...

Đoạn, bưng lấy mặt mà khóc. Án Tử thấy vậy, mới thần hồn át thần tính, mà bảo dạ rằng:

– Đàn bà! Luôn nhớ đến những gì người khác... quên làm cho mình, mà chẳng bao giờ nhớ đến những gì mình nhận nơi người khác, nên cõi thế này mới lắm chuyện sầu đau. Mới tím ruột tím gan tím... chiều hoang biền biệt. Thôi thì nghĩa Phu thê vẫn còn đang gắn bó – thì xá mẹ gì một chút vải này đây – để chữ trăm năm như thuyền không bến đậu. Chớ có tấm áo mà buồn trong tiếc nuối, thì liệu mai này còn... quân tử được ư?

Nghĩ vậy, Án Tử mới tươi nét mặt, mà hớn hở nói với vợ rằng:

– Tôi vẫn nhớ ngàn xưa hay nói: Hòa khí sanh tiền tài. Nín nhịn sẽ mang nhiều ân đức, nên quyết diệt trừ nóng giận với sầu bi. Chớ không thể cứ... vô tư làm nàng rầu mãi được...

Nói rồi, liền mang tất cả lụa là gấm vóc cùng mớ kim ngân mà giao cho hiền nội. Vợ của Án Tử lấy làm thích thú. Cười híp cả mắt lại, rồi thì thầm tự nhủ:

– Một người vợ hiền tất phải biết mình, biết chồng. Rõ được lúc vui. Hiểu tường lúc bực – mà đem nước mắt, nụ cười làm phương tính toán – thì dẫu không đủ ân đức để rải khắp nhân gian, thì cũng đủ cho lang quân phải hết lòng quy phục. Suy đi nghĩ lại. Thiệt là chí lý lắm thay!

Một hôm, vua Sở được tin Án Tử sắp sang, bèn gọi các quan lại, mà phán rằng:

– Án Tử là tay ăn nói giỏi của nước Tề. Nay sắp qua đây. Ta muốn làm nhục. Chẳng hay các ngươi có mẹo kế gì chăng?

Nghiêu Phố, là tướng quốc nước Sở, mới quỳ xuống mà thưa rằng:

– Đợi bao giờ Án Tử sang. Chúng tôi xin trói một người, rồi dẫn đến trước mặt vua.

Vua Sở ngạc nhiên, hỏi:

– Để làm gì?

Nghiêu Phố đáp:

– Để giả làm người nước Tề.

Vua Sở đực mắt ra trong giây lát, rồi nhướng mắt lên mà nói rằng:

– Ta thật không hiểu điều ngươi muốn nói. Vậy có gì thì nói mẹ nó ra. Chớ không thể cứ mông lung kiểu này nữa được!

Nghiêu Phố lật đật đáp:

– Chúng hạ thần cho một người giả làm người nước Tề. Bị bắt về tội ăn trộm, thì dẫu cho Án Tử có mồm năm miệng mười thế nào đi chăng nữa – thì cũng... đi luôn – Chớ không thể múa may gì nữa đặng!

Vua Sở nghe thế mới trong lòng dậy nổi phong ba, mà hớn hở phán rằng:

– Diệu kế! Diệu kế! Phen này Án Tử chỉ có nước... tiêu, thì làm sao giữ tăm tiếng cho nước Tề nữa đặng? Đã vậy trong lòng ta quả nhiều hứng thú. Khi nghĩ cảnh sứ người đỏ mặt tía tai, mà không cách chi cứu thua bàn thấy được...

Đoạn thét tả hữu lấy ba chung bồ đào mỹ tửu ban cho Nghiêu Phố, cùng cấp bảy lượng vàng ròng để tìm người hết sức chịu chơi, đặng hợp với quan nha mà bày trò hí lộng. Nghiêu Phố khoái quá, khiến mặt mày như vừa... thẩm mỹ viện ra, bèn sướng hiu hiu mà nghĩ thầm trong dạ:

– Làm tôi thấy vua thích mà không cố để vua vui là bất Trung. Ăn chén cơm vua mà không hết lòng với vua là bất Nghĩa. Bày mưu tính kế để giúp vua mà không làm là bất Tín. Ta dẫu không dám nhận mình là quân tử, nhưng không thể là kẻ thiếu Trung. Cũng không thể Tín Nghĩa mà thiếu luôn hai đàng nữa được!

Tối ấy, Nghiêu Phố về nhà mà dạ lâng lâng như ngày coi mắt vợ. Vợ của Nghiêu Phố là Hàn thị, thấy chồng về mà... nhẹ gót đường mây, liền ngưng chuyện cửi canh mà nghĩ thầm trong bụng:

– Người ta ở tốt với mình thì mình phải ở tốt với người ta. Người ta ở xấu với mình thì mình cũng phải ở tốt với người ta. Thế mới là hiền phụ...

Nghĩ vậy, bèn đạp canh cửi ngã lăn ngã lốc mà chạy ra đón chồng, rồi hỏi:

– Thiếp vẫn nghe ngàn xưa hay nói: Xa thì thương, gần thì thường. Nay thiếp đã bên chàng sống đặng mấy niên, mà vẫn thấy thương anh còn hơn hồi mới... chập. Là cớ làm sao?

Nghiêu Phố tươi hẳn nét mặt lên, rồi thủng thẳng đáp rằng:

– Chim Quyên ăn trái nhãn lồng. Lia thia quen chậu vợ chồng quen hơi. Vợ chồng. Ở càng lâu thì... hơi càng nặng. Chớ có mẹ gì đâu! Mà nàng phải cuống lên hỏi này hỏi nọ!

Đoạn, vừa bước vào nhà vừa ca vài điệu Lý quê hương, khiến Hàn thị thấy lạ lùng trong dạ, mới bảo bụng rằng:

– Chồng ta. Từ nào tới giờ, chỉ biết mỗi bài... Trống cơm. Chớ có đâu lại biết nhiều như vậy? Hay là Cậu Bà từ trên giáng xuống, nên mới xui chàng hát nọ hát kia. Chớ lẽ đâu lại ly kỳ như thế được?

Nghĩ vậy. Mặt mày bỗng đâm lo, mới vội nói với Nghiêu Phố rằng:

– Từ ngày về sửa túi cho lang quân đến nay. Thiếp chưa bao giờ thấy lang quân mừng dzui như dzậy. Nếu lang quân vẫn đẹp lòng đẹp ý, thì chia sớt vài phần với thiếp được chăng?

Nghiêu Phố vội nắm lấy tay Hàn thị. Cười một tiếng rõ to, rồi nói:

– Uống nước phải chừa cặn. Có lý phải có tình. Cạn tàu ráo máng với nhau không nên. Hà huống chi nghĩa Phu thê đã vài Thu sáng rực?

Đoạn, sung sướng đem hết mọi chuyện ra mà kể. Không bỏ sót một chỗ nào. Hàn thị nghe trọn từ đầu tới đuôi, mới hớt hãi kêu Trời trong dạ:

– Ngậm máu phun người dơ miệng mình, thì rõ ra ta không thể dựng đứng câu chuyện, hoặc dùng lời không phải, mà hại ai bao giờ. Lại nữa, bản tính của con người vốn là lương thiện. Vậy thì những kẻ làm điều sai trái. Chẳng qua là do lòng ham muốn quá nặng mà ra. Chớ chẳng phải số... xui gì hết cả. Đó là chưa nói lâu dần thành ra khó rút – khiến lương thiện buổi đầu mất mẹ nó ngày sau – thành thử cứ dzô sâu mà không mần chi được...

Nghĩ vậy, Hàn thị trầm ngâm một chút, rồi nhìn thẳng vào mắt của Nghiêu Phố, mà nói những lời nghe thấu ruột thấu gan:

– Thiếp gần gũi với chàng tuy chẳng được trăm năm, nhưng những điều bổ ích thu đặng không phải là ít. Phẩm cách cao thượng của phu quân, là khuôn mẫu cho các con mai ngày góp mặt. Tấm lòng lượng cả của phu quân, khiến thiếp đã bao phen lặn mình ở trong đó. Những lời tâm huyết của phu quân, là hướng đi cho thiếp một đời theo đuổi. Nay bỗng dưng phu quân bỏ chỗ quang đâm đầu vào bụi rậm, là cớ làm sao?

Nghiêu Phố trừng mắt lên nhìn Hàn thị, rồi giận dữ gắt rằng:

– Ăn cơm vua. Hưởng lộc nước, thì dầu có phải bán chữ... Thánh hiền để vui lòng vua. Ta cũng làm tuốt luốt. Chớ xá chi chút khen chê mà lo này lo nọ. Đó là chưa nói ta không làm lỡ thằng nào dzớt mất, thì mộng công hầu ta biết liệu làm sao? Khi chốn quan nha lắm gian mà ít thật...

Hàn thị nghe thế. Chợt trong lòng trĩu nặng nỗi buồn. Như muốn khóc, rồi chậm rãi đôi lời nghe thấy mẹ thấy cha:

– Trời không nở bịt hết đường. Hay số phần định cho chàng phải... đứt chến vậy chăng?

Đoạn, thở hắt ra một cái, rồi nghẹn ngào nói tiếp:

– Cây Lan mọc nơi rừng sâu núi thẳm. Mặc dù chẳng có ai ngửi thấy mùi thơm ngọt ngào của nó, nhưng... đều đều vẫn cứ tỏa hương. Cũng vậy. Một con người có tu dưỡng. Có nhân đức. Càng quyết không thể vì bả phù vân mà thay đổi khí tiết. Nay chàng. Trên thì thua một người. Dưới lại ngồi trên hàng vạn sinh linh – mà còn chưa thấy đủ – thì trách chi cõi dương gian lắm ghen nhiều cái lụy...

Lúc Án Tử đến nơi. Vua Sở làm tiệc thiết đãi tử tế. Rượu uống ngà ngà. Chợt thấy hai tên lính điệu một người bị trói vào. Vua hỏi:

– Tên kia tội gì mà phải trói thế?

Một tên lính thưa:

– Tên ấy là người nước Tề. Phạm tội ăn trộm nên bị bắt.

Vua Sở khoái trá, liền nheo mắt nhìn Án Tử, rồi cao giọng hỏi rằng:

– Người nước Tề hay trộm cắp lắm nhỉ?

Án Tử đứng dậy thưa rằng:

– Chúng tôi trộm nghe cây Quất mọc ở đất Hoài Nam, thì là Quất ngọt. Đem sang trồng ở đất Hoài Bắc, thì hóa Quất chua. Cành lá giống nhau mà quả chua, quả ngọt. Là tại làm sao? Tại thủy thổ khác nhau vậy. Nay dân sinh trưởng ở nước Tề thì không ăn trộm. Sang ở nước Sở thì sinh ra trộm cắp. Có lẽ cũng tại vì cái thủy thổ khác nhau mà khiến ra như thế chăng?

Vua Sở cười nói:

– Ta muốn làm nhục ngươi hóa ra lại chịu nhục. Thế mới hay. Kẻ khôn ngoan chẳng nên nhục mạ ai bao giờ...

Các quan nghe thế. Chỉ lấy mắt nhìn nhau. Chớ tuyệt nhiên không nói thêm chút gì nữa cả. Còn Nghiêu Phố thì đỏ mắt tía tai, đến độ miếng ăn ngon mà không sao nuốt vào cho đặng. Đã vậy lại thấy Án Tử ung dung cười vui chén, thêm phong độ tẩy trần như thưởng nguyệt chờ trăng, khiến lòng trí mê man như vừa ôm sốt nặng, rồi trong lúc buồn dâng cao như thế, mới nhủ đôi lời nghe tím dạ tím gan:

– Công danh có thể quen mà thành. Tiền của có thể do số... đề mà có. Duy cái Chí khí của con người. Không thể với kim ngân mà mua liền mua được, nên thiên hạ phân loại nhân phẩm con người cao thấp là chỗ đó. Còn ta. Tự cho mình là đại trượng phu – mà hành động chẳng có gì quang minh chính trực – thì... thiệt là hết biết!

Chuyện ngụ ngôn ý nghĩa

THẦY BÓI XEM VOI

Nhân buổi ế hàng, năm ông thầy bói nói chuyện với nhau.

Thầy nào cũng phàn nàn không biết hình thù con voi nó như thế nào.

Chợt nghe người ta nói có voi đi qua, năm thầy chung nhau tiền biếu người quản voi, xin cho voi dừng lại để cùng xem.

Thầy thì sờ voi, thầy thì sờ ngà, thầy thì sờ tai, thầy thì sờ chân, thầy thì sờ đuôi.

Đoạn, năm thầy ngồi bàn tán với nhau

Thầy sờ vòi bảo:

- Tưởng con voi nó thế nào, hoá ra nó sun sun như con đỉa.

Thầy sờ ngà bảo:

- Không phải! Nó dài dài như cái đòn càn.

Thầy sờ tai bảo:

- Đâu có! Nó bè bè như cái quạt thóc.

Thầy sờ chân cãi:

- Ai bảo? Nó sừng sững như cái cột đình.

Thầy sờ đuôi lại nói:

- Các thầy nói sai cả. Chính nó tua tủa như cái chổi xể cùn.

Năm thầy, thầy nào cũng cho mình nói đúng, không ai chịu ai, thành ra xô xát, đánh nhau tọac đầu chảy máu.

Lời bàn:

Khi giao tiếp, nói chuyện, vấn đề nào tìm hiểu chưa thấu đáo thì không nên thể hiện quan điểm của mình vì không thể nào có được một nhận xét đúng đắn về thực tế xung quanh (hiện tượng, sự việc, sự vật, con người) nếu chưa tìm hiểu đầy đủ, kĩ càng. Muốn kết luận đúng về sự vật thì phải xem xét nó một cách toàn diện. Những hiểu biết hời hợt, nông cạn, những suy đoán mò mẫm thiếu thực tế... chỉ dẫn đến nhận thức lệch lạc, sai lầm mà thôi.

Qua truyện, người xưa còn ngầm phê phán những kẻ thiếu hiểu biết nhưng lại hay tỏ ra thông thái.

Tri Kiến Giác Ngộ - Minh Triết Trong Đời Sống

KHÔNG LÀM, KHÔNG ĂN 

Hyakujo, Thiền sư Trung Hoa, thường hay lao động cùng với các môn sinh của mình dù đã ở vào tuổi tám mươi, cắt tỉa vườn tược, quét dọn mặt đất, và chặt bới cây cối.

Các môn sinh cảm thấy phiền não khi thấy vị thiền sư trưởng lão làm lụng cực nhọc như vậy, nhưng họ biết rằng thiền sư sẽ không nghe theo lời khuyên của họ mà ngưng lại, vì thế nên họ dấu dụng cụ của thiền sư.

Ngày hôm đó vị thiền sư không ăn. Ngày hôm sau thiền sư không ăn, và ngày kế tiếp cũng vậy. "Sư Phụ có thể giận lẫy vì chúng mình dấu dụng cụ của Sư Phụ," đám môn sinh phỏng đoán, "chúng mình nên để dụng cụ lại chỗ cũ thì hơn."

Ngày mà họ mang trả lại dụng cụ, vị thiền sư làm việc và ăn như trước. Vào buổi tối, thiền sư dạy họ: "Không làm, không ăn."

Cổ Học Tinh Hoa

Gió lớn mới biết cỏ cứng, cám dỗ mới thấy tiết tháo của một người

Người xưa có câu: “Gió lớn mới biết cỏ cứng, gian nguy mới biết ai là trung thần”, chỉ vào lúc gặp khó khăn gian nan mới có thể nhận ra được tín niệm và khí tiết của một người.
Từ bản chất của con người mà xét thì ban đầu vốn là thiện ác rõ ràng, chính và tà không thể cùng tồn tại. Nhưng, nếu như ở vào thời kỳ yên ổn bình hòa thì rất khó để phân biệt ra một người là gian trá hay chân thật và nhân phẩm là cao hay thấp.
Đây là bởi vì họ có thể dùng “hoa ngôn xảo ngữ” để che giấu những gian trá này đi. Người xấu cũng có thể tùy lúc mà đeo cho mình một bộ mặt “giả nhân giả nghĩa” để trở thành người tốt. Bởi vậy, phần nhiều là ở vào lúc gặp khó khăn gian nan mới có thể hình thành khảo nghiệm đối với tín niệm và khí tiết của một người.

Khổng Tử là người có phẩm hạnh và đạo đức cao thượng, cả đời tận lực vì sự nghiệp dạy học. Dù cả cuộc đời ông sống trong cảnh nghèo túng, chưa từng ra làm quan, nhưng vị thế là bậc tôn sư của ông không vì thế mà mất đi trong lòng hậu thế.

Còn Tần Cối từng làm quan đến chức Thừa tướng vào triều nhà Tống (960 – 1276). Ông ta nắm giữ quyền lực hiển hách, chức quan dù to nhưng hành động không có đạo đức tương xứng khi hại người trung thực ngay thẳng, bán nước cầu vinh làm ô danh thiên cổ.

Từ hai trường hợp trên cho thấy, một cuộc đời thành công được người đời tôn kính không nhất định phải làm quan to hay giàu có. “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”, ý rằng giàu có không bị cám dỗ, nghèo túng không dễ thay đổi, quyền uy không thể bị khuất phục mới là tiết tháo mà con người nên giữ gìn.

Bởi vậy, nếu muốn biết ý chí của một người như thế nào, có đáng tin cậy hay không, hãy nhìn vào khả năng của người đó trước sự cám dỗ của danh lợi là có thể biết rõ. Người có tiết tháo, ý chí kiên định sẽ chiến thắng những dụ dỗ, đe dọa, luôn tiến lên theo con đường hay mục tiêu mình đã chọn.

Tô Vũ (140 – 60 TCN) thời Hán Vũ Đế phụng mệnh đi sứ nước Hung Nô, thủ lĩnh nước Hung Nô dùng nhiều thủ đoạn (của cải, quan tước…) để dụ dỗ ông hàng phục nhưng đều thất bại. Cuối cùng họ liền bắt ông đến vùng sơn cước xa xôi chăn dê, cắt nguồn lương thực, muốn dùng cuộc sống khổ cực nghèo hèn để ép ông vào khuôn phép.

Nhưng Tô Vũ là người uy vũ không khiến ông khuất phục, nghèo túng không khiến ông thay lòng, không thể dùng phú quý mê hoặc được. Cho nên, dù ngồi tù suốt 19 năm ở nước Hung Nô nhưng tiết tháo của ông không hề thay đổi. Cuối cùng, thủ lĩnh Hung Nô không làm gì được đành phải để ông về nước Hán.
Vào triều nhà Hán, Hoàng Bá và Lệnh Hồ Tử Bá là bạn thân cùng quê. Khi Lệnh Hồ Tử Bá làm Thừa tướng nước Sở thì Hoàng Bá chỉ giữ một chức quan địa phương nhỏ.

Một hôm, Lệnh Hồ Tử Bá sai con trai mình đi chuyển đến cho Hoàng Bá một phong thư. Sau khi những quan khách đã ra về hết nhưng Hoàng Bá vẫn ngồi “tê liệt” trên ghế một hồi lâu mà không thể dậy nổi.

Vợ của ông thấy lạ liền hỏi: “Ông đang có chuyện gì thế?”.

Hoàng Bá đáp: “Tôi vừa thấy người con trai của Lệnh Hồ Tử Bá phong thái đĩnh đạc, dáng vẻ phóng khoáng, nét mặt sáng ngời, còn bản thân tôi thì lôi thôi nhếch nhác giống như một ông lão già yếu vậy. Thấy người ta tiền đồ huy hoàng, phát đạt mà mình thì không có gì, cũng chẳng có mối quan hệ nào, nghĩ đến việc không thể mang lại cho con cái chúng ta cuộc sống sung túc vẻ vang làm lòng tôi vô cùng áy náy!”.

Vợ của Hoàng Bá sau khi nghe thấy thế thì vô cùng tức giận, liền to tiếng: “Xem trọng thanh liêm tiết tháo, xem nhẹ công danh lợi lộc là con người của ông xưa nay. Bây giờ xem bề ngoài của Lệnh Hồ Tử Bá vinh hiển cũng chẳng qua chỉ là sự khác biệt trong lựa chọn đường đời của cá nhân. Có gì phải lấy ra so sánh? Ông không nên vì chuyện này mà quên mất chí hướng vốn có của mình, không cần phải cảm thấy hổ thẹn với con cái”.

Hoàng Bá sau khi nghe vợ mình khuyên thì như được đánh thức mà tỉnh lại, cảm thấy khâm phục suy nghĩ thấu đáo của vợ.

Ở vào mỗi một khoảng thời gian khó khăn, ở vào nghịch cảnh, thậm chí là ở vào lúc nguy hiểm đến sinh mệnh nếu như vẫn có thể kiên trì theo đuổi tín ngưỡng và đức hạnh của bản thân mình thì đó mới thực sự là “trung thần nghĩa sĩ”, là người quân tử đáng tôn kính. Đây chính là lý do mà từ thời thiên cổ đến nay, cho dù rất nhiều “trung thần nghĩa sĩ”, rất nhiều người cho dù là bị thất bại thảm hại những vẫn được hậu nhân tán dương và kính trọng.

“Tật phong tri kính thảo, bản đãng thức thành thần” (Tạm dịch: Gió lớn mới biết cỏ cứng, hỗn loạn mới biết trung thần). Đây là câu nói giàu tính triết lý và có mang tính chất gợi ý. Trong lúc “gió yên” thì “cỏ cứng” sẽ hòa lẫn vào với những loại cỏ thông thường khác, cũng giống như trong cuộc sống bình hòa thì “trung thần” cũng dễ dàng bị lẫn lộn trong người thường vậy.

Tính đặc thù này không có hoàn cảnh để thể hiện ra nên thật khó để phân biệt. Chỉ có trải qua “gió lớn mãnh liệt” và “thời cuộc hỗn loạn” khảo nghiệm thì mới có thể nhận ra cỏ nào là mạnh và người nào là người tận tâm, trung thành, có phẩm chất cao quý mà thôi.

Một chính nhân quân tử sẽ giữ được ý chí và tiết tháo kiên định, không dễ dàng thay lòng vì vật chất cám dỗ. Cho dù không có quan tước hiển vinh và giàu sang phú quý thì họ vẫn luôn là tấm gương cho người khác về nhân cách, về đạo đức cao thượng không gì lay chuyển được. Dù cho người khác không nói ra nhưng trong lòng họ vẫn tôn sùng những người như vậy bởi ở bất kỳ đâu thì nhân cách cao thượng cũng luôn tỏa ánh hào quang chiếu rọi.

Theo Daikynguyenvn