Friday, June 23, 2017

Ngày 23-6-2017 Suy Niệm Trong Ngày

Chuyện ngắn - Màu trắng của thời gian

MÀU TRẮNG CỦA THỜI GIAN

Bố đứng trước tôi. Lặng lẽ. Đôi mắt ông chứa đựng những cái nhìn mệt mỏi. Tôi đưa tay đỡ chiếc vali cho bố. Tấm vé tốc hành tàu Thống Nhất nhàu nát rơi xuống nền đá hoa.
- Cô ấy đi rồi! – Ông thốt lên giọng khó nhọc.

***

Bố tựa hẳn vào bờ vai nhỏ nhắn của tôi bước vào nhà. Cố gắng lắm tôi mới kìm được một đống những câu hỏi đang nhảy múa trong đầu.

- Bố đến muộn à?

- Không.

- Thế sao bố không đi cùng cô ấy.

Ông mỉm cười héo mắt nhìn tôi:

- Bố không thể!
Tôi nắm chặt tay bố, cố tìm những an ủi, nhằm xoa dịu nỗi đau trong lòng ông. Đỡ bố ngồi xuống chiếc ghế tựa, tôi đứng cạnh ông. Thoáng sững sờ! Người đàn ông với khuôn mặt hằn những dấu vết đè nặng của tháng năm này là bố tôi đấy ư? Một người đàn ông nhỏ bé trong sự nhẫn nhục câm nín.

Tôi lờ mờ cảm nhận hình như bố đã khác xa thật rồi với hình ảnh người đàn ông mà tôi hằng ngưỡng mộ.
Ngoài khung cửa sổ, giọt nắng hanh hao cuối chiều tàn tạ lê mình trên xác lá bàng đỏ sẫm. Thời gian! Con người nào có ai chống chọi nổi với thời gian!

Suốt hai chục năm qua, tôi đã lớn lên trong nhữ ước mơ mỏng mảnh của riêng mình. Dường như con người luôn thèm khát có được sự hoàn hảo trong cài khập khiễng của cuộc sống. Ông trời công bằng nên ban phát đồng đều sự khổ đau và hạnh phúc xuống trần thế.

Tấm giấy mời cho xuất phim buổi tối nằm co ro trên mặt bàn. "Mẹ đi xem phim cùng bố nhé. Dễ phải chục năm rồi bố mẹ không đi xem phim ấy. Con nhớ ngày xưa mỗi lần cơ quan mẹ chiêu đãi xem chiếu bóng là bố lại lúi húi bơm xe. Mẹ phải nấu cơm từ sớm. Buổi tối bố mặc quân phục chở hai mè con mình ngồi sau oách ơi là oách...".

"Tối nay tôi phải đi lấy tiền". "Thôi mà mẹ, con mua vé rồi.". "Thôi? Thì lấy gì mà đổ vào mồm. Đem vé sang hàng xóm mà cho. Hết bao nhiêu tiền tôi trả". Tôi cúi mặt lặng im. Bố thở dài bước vào căn phòng riêng. Tiếng hát từ đĩa com-pắc vọng ra "Sông Lô...sóng dài kháng chiến...". Mẹ nhăn mặt: "Có gì thì nói thẳng ra. Thói ở đâu cứ vặn nhạc to điếc cả tai".
Trăng 16 huyền ảo lung linh lơ lửng trên nề trời đen thẳm, hương dạ lan thoang thoảng. Tôi đút tay vào túi áo. Bố đứng đối diện với tôi, ở giữa, khoảng không gian bỗng nhiên chùng lại.

- Con biết chuyện này lâu chưa?
- ...
- Con biết những gì?
- Có lẽ là tất cả. Con hiểu cô ấy vừa là mối tình đầu của bố, vừa là bạn chiến đấu của bố khi xưa. Con biết cô ấy đã bị chồng ruồng bỏ từ 7 năm nay vì không có khả năng sinh con sau lần Mỹ rải bom hóa học ở Trường Sơn.
- Con không trách bố? Giọng ông thoảng nhẹ. Nhẹ đến nỗi lẫn cả vào trong gió.
- Khi một đứa trẻ cất tiếng khóc chào đời tức là tạo hóa đã trao cho chúng quyền được sống. Nhưng người ta không thể sống nếu không có hạnh phúc. Mà hạnh phúc thì chỉ đơn giản là một cuộc sống đúng với ý nghĩa của nó – một cuộc sống đúng như người ta mong muốn. Vậy thì chúng ta, giữa những con người với nhau hãy hy sinh một chút quyền lợi của mình để đem đến cho đồng loại của mình quyền được sống thoải mái.

- Tức là con muốn bố đi cùng cô ấy?

- Bố có quyền được lựa chọn. Vả lại bố và mẹ cũng ly thân 8 năm nay rồi.

Tôi quay mặt đi. Bàn tay ấm nóng của bố đặt nhẹ lên vai " Cảm ơn con!". Tiếng sỏi lạo xạo. Bước chân của bố vang lên đơn độc, xa dần rồi chìm lẫn vào đêm. Tôi ngồi bệt xuống sân. Òa khóc! Trăng vẫn treo lơ lửng trên đầu.

Một nửa cuộc đời bố, bố khoác trên người bộ quân phục người lính hết ra bắc vào nam lại đánh đông dẹp tây. Ông bà nội chỉ có duy nhất một cậu con trai nên đã thu xếp cho bố lấy mẹ trong đợt nghỉ phép. Cả hai gặp nhau, rồi yêu nhau rồi cưới nhau chỉ vỏn vẹn trong một tuần.

Chiến tranh mà. Ngày ấy mọi thứ sao mà lại quá giản đơn đến thế. Một năm sau tôi được sinh ra giữa tiếng đạn bom của thời kỳ kháng chiến, Rồi tôi lớn lên dọc theo sự vất vả, cơ cực của mẹ. Khi tôi 5 tuổi thì hòa bình lặp lại, giải phóng Sài Gòn, bố trở về lành lặn như một phép tiên cùng chiếc ba lô nhăn nhúm bạc mầu đựng những tháng ngày vinh quang vượt Trường Sơn chống Mỹ.

Bố đánh giặc giỏi nhưng ngoài súng ống trận mạc thì công việc nào ông làm cũng vụng về. Cuộc sống khó khăn. Mẹ giã từ bảng đen, giã từ nghề dạy học xin về hưu non, tất bật ngược xuôi chèo chống cho cả gia đình. Kinh tế dần dần ổn định vị trí của bổ trong nhà cũng dần dần mờ nhạt đi.

Và từ lúc nào chẳng rõ, ông bỗng trở thành chiếc bóng lặng lẽ giữa nhịp sống quay cuồng của thời đại. Thỉnh thoảng tôi vẫn bắt gặp trong mắt ông bừng lên tia sáng của niềm vui, của hy vọng mỗi khi ông có dịp gặp lại bạn chiến đấu rồi cùng ngồi bên chén rượu, củ lạc khề khà ôn chuyện "cái thời đánh Mỹ".

Sau mỗi lần như thế, tôi thèm khát vô cùng được nối liền những niềm vui nho nhỏ ấy của ông thành tia sáng dài bất tận. Tôi thèm khát được nhìn thấy ông lại sống với hình ảnh con người thật của ông: nhanh nhẹn, năng nổ, hoạt bát và trẻ trung.

Tôi đã quá quen với suy nghĩ bố là một chú bộ đội Cụ Hồ hiên ngang dũng cảm, con người từ ranh giới giữa sự sống, cái chết trở về mà những người như thế sẽ bất diệt với thời gian.
Tôi chậm rãi vuốt nhẹ chồng áo sơ mi đã được là cẩn thận rồi cất vào ngăn tủ.

- Bố đã đến sân ga trước giờ tàu chạy 15 phút - giọng bố vang lên đều đặn, không cảm xúc - Bố nhìn thấy cô ấy nhỏ bé, xa lạ trước sự tấp nập, náo nhiệt. Bố đã đứng rất lâu trong phòng đợi, cái nơi chỉ cách cô ấy cái tấm kính trong suốt.

Chỉ cần nhích lên một chút, chìa tấm vé cho người kiểm soát là bố có thể lên tàu, bình an ngồi cạnh cô ấy trong suốt chặng đường còn lại. Rồi bố và cô ấy sẽ đến một vùng đất mới, sẽ có một căn nhà nho nhỏ nhưng ấm cúng và giản dị. Đấy cũng là ước mơ của bố đấy thôi.

Nhưng không hiểu sao đôi chân của bố không cử động nổi. Có một cái gì đấy ngăn bố lại... Và bố chỉ còn biết nhìn theo cô ấy bước lên tàu, rồi tuyệt vọng chứng kiến đoàn tàu từ từ chuyển bánh.

- Ly rượu sóng sánh. Màu đỏ ối khúc xạ lên thành ly như đang dạo một vũ điệu không tên. Tôi mỉm cười hờ hững:

- Thật thảm thương cho ước mơ của hai bố con mình. Chúng đều bị gãy cánh trên con đường bay đến sự thật.

- Bố hiểu con nghĩ gì nhưng bố không thể. Khi người ta đã đi qua hai phần ba cuộc đời như bố, người ta rất ngại sự thay đổi dù rằng nó đem đến kết quả tốt hơn. Tâm lý người già mà con. Người ta đã quá mệt mỏi nên muốn được nghỉ ngơi và tránh sự xáo trộn...Bây giờ bố  chỉ cần sự thanh thản.

- Bố đã bỏ lỡ cơ hội cuối cùng để nắm lấy hạnh phúc.

- Bố còn có con. Hơn nữa... mẹ con, suy cho cùng bà ấy cũng nào có lỗi gì đâu.
...
Đèn trong nhà vụt sáng. Mẹ vứt chiếc túi xách tay xuống đi-văng:

- Ô hay! Sao hai bố con nhà ông cứ ung dung ngồi nhà thản nhiên như người dưng. Ngoài cửa hàng thì bận trăm công nghìn việc...

- Mẹ!

- Nào phải tôi kiếm tiền cho bản thân tôi đâu: cả đời cứ làm đầy tớ không công hầu hạ chồng con.

Bố đứng lên, ly rượu trong tay chỉ còn phân nửa. Thoáng lướt qua trên môi ông nụ cười lặng lẽ.
Tôi bước ra ngoài sân. Sương giăng mờ. Thấp thoáng ngọn đèn vàng vọt trên ban công. Con người luôn mày mò trong khối sương mờ ảo ấy để tìm cho mình một con đường đi đến đích.

Người thì may mắn tìm ra người thì không. Có người thì không. Có người cuối đời mới biết bấy lâu nay đã mắc ở trong ngõ cụt. Muốn quay trở ra nhưng rồi lại không thể. Người ta không nỡ vứt bỏ những thứ vô ích đã gắn bó với mình.

Tôi hít thật sâu vào lồng ngực thứ sương khói ẩm ướt. Hơi lạnh lan tỏa khắp cơ thể. Tôi chợt nhận ra có lẽ tất cả đã quá muộn mất rồi. Thời gian đã pha mảng trắng lên mái đầu của bố, ban tặng cho ông những trách nhiện sự an phận và những mối ràng buộc linh tinh khác. Và bây thì tôi hiểu. Phải, cài màu trắng quái quỉ của thời gian đã vĩnh viễn đem đi những gì là năng nổ, hoạt bát của bố.

Tôi chợt cay đắng nhận ra rằng không một ai có thể nằm ngoài qui luật vận động của thời gian.
"Vâng! Bố đã già thật rồi!".

nguồn: www.truyenngan.com.vn

Chuyện ngụ ngôn ý nghĩa

Cái cần câu

Có một ông lão ngồi câu cá bên bờ sông, một cậu bé đi qua nhìn thấy kĩ thuật câu cá điêu luyện của ông chẳng mấy chốc cá câu được đã đầy sọt. Ông lão thấy cậu bé đáng yêu liền tặng cậu cả sọt cá. Cậu bé lắc đầu. Ông lão ngạc nhiên hỏi: ”Sao cháu không lấy?”. Cậu bé trả lời : “Cháu muốn cái cần câu của ông”. Ông lão hỏi: ”Cháu lấy cần câu làm gì”. Cậu bé đáp: ”Một sọt cá ăn chẳng bao lâu sẽ ăn hết, nếu có cần câu cháu có thể tự đi câu, không bao giờ ăn hết cá”. Tôi nghĩ bạn nhất định sẽ nói cậu bé này thật thông minh. Sai rồi! Nếu có cần câu, một con cá cậu bé cũng không được ăn. Bởi vì cậu ta không biết cách câu cá, có cần câu cũng vô ích. Bởi vì câu cá quan trọng nhất không phải ở cần câu mà là ở kĩ thuật. Có rất nhiều người cho rằng chỉ cần có người vạch sẵn đường đi cho mình thì không hề lo sợ những khó khăn phía trước, như vậy khó tránh khỏi ngã xuống đống buồn lầy. Như khi đứa bé thấy ông lão chỉ nghĩ là có cần câu sẽ không sợ đói, cũng như nhân viên nhìn thấy ông chủ thì nghĩ chỉ việc ngồi vào phòng làm việc thì có thể bòn rút được tiền bạc. 

Tri Kiến Giác Ngộ - Minh Triết Trong Đời Sống

ĐÚNG VÀ SAI 

Khi Bankei tổ chức những tuần an cư để thiền định, các thiền sinh từ nhiều nơi trên nước Nhật Bản tới tham dự. Trong một lần của những buổi hội họp này một thiền sinh bị bắt về tội ăn trộm. Công chuyện được trình lên Bankei với lời thỉnh cầu rằng kẻ phạm tội phải bị trục xuất. Bankei đã bỏ qua nội vụ.

Sau đó thiền sinh này bị bắt trong một hành động như vậy, và Bankei lại vẫn không quan tâm đến sự việc. Điều này làm những thiền sinh khác tức giận, họ liền thảo một tờ thỉnh nguyện đòi đuổi tên trộm cắp ra, tuyên bố rằng nếu không làm vậy thì họ sẽ cùng nhau bỏ đi.

Khi Bankei đọc xong tờ thỉnh nguyện ông gọi tất cả thiền sinh lại trước mặt ông. "Các anh là những anh em khôn ngoan," ông nói với họ. "Các anh biết cái gì là đúng và cái gì không đúng. Các anh có thể đi nơi khác để tu học nếu các anh muốn, nhưng người anh em đáng thương này lại không biết đến cả phân biệt đúng với sai. Ai sẽ dạy dỗ anh ấy nếu ta không dạy. Ta sẽ lưu giữ anh ấy ở đây cho dù tất cả các anh còn lại có bỏ đi hết."

Một suối nước mắt đã rửa sạch khuôn mặt người anh em trộm cắp. Mọi tham muốn trộm cắp đều biến mất đi.

Tượng Phật bốn tay chùa Linh Sơn

An Giang - Bia đá và Tượng phật bốn tay chùa Linh Sơn



Hai bia đá và tượng phật bốn tay chùa Linh Sơn thuộc xã Vọng Khê, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, cách Long Xuyên 42 Km. Đi từ Long Xuyên đến núi Sập vào Vọng Thê 12 km. Từ chợ Vọng Thê đi theo triền núi Ba Thê về hướng Đông 2 km là đến chùa Linh Sơn.
Về nguồn gốc ra đời của di tích lịch sử trên được các cụ bô lão địa phương và các vị sư trụ trì chùa Linh Sơn kể lại như sau:


1- Về hai bia đá chữ cổ này dựng lên từ bao giờ không ai được biết. Bia thuộc loại đá bùn, chiều cao tính từ nền chùa là 1,8m, rộng 01m, dầy 0,2m. Chữ trên bia đá, chưa ai đọc được. Theo các nhà khảo cổ, đây không phải chữ Khơ Me, cũng không phải chữ Phạn cổ, có thể là chữ của dân tộc Phù Nam cổ có niên đại trên dưới 2000 năm, thuộc nền văn hóa Óc Eo.

2- Về tượng phật bốn tay: Năm 1912, thực dân Pháp cho xe ủi đất làm đồn Ba Thê. (gần chợ Ba Thê ngày nay) thì phát hiện được tượng phật bốn tay này ở độ sâu 02m. Nhân dân quanh vùng đem về đặt lên hai bia đá chữ cổ vừa nêu trên và lạ thay rất vừa vặn. Từ đó nhân dân đóng góp tiền của cất lên ngôi chùa Linh Sơn để thờ cúng cho đến ngày hôm nay.

Theo các nhà khảo cổ học dự đoán tại hai bia đá và khu vực chùa Linh Sơn có khả năng là trung tâm nền văn hóa Óc Eo. Do đó, năm 1980, tỉnh An Giang đã khoanh vùng bảo vệ khu di tích này.
Về tượng phật trên đầu có chạm 9 thần rắn, nằm che phủ, các thần rắn này cùng một khối đá chung với tượng phật. Hiện nay hai bia đá và tượng phật bốn tay được bảo vệ tốt, do nhà sư do Thích Thiện Trí trông nom, gìn giữ. Hàng năm, nhân dân đến cúng lễ rất đông.

Chuyện cười trong ngày

Sợ vợ

Sư cụ ngồi đàm đạo với mấy người khách, có người hỏi:

- Trong đám ta đây ai là người sợ vợ nhất?

Chưa ai dám đáp thì sư cụ đã nhận ngay:

- Kể sợ thì tôi đây sợ nhất!

Mọi người lấy làm lạ mới hỏi:

- Sư cụ có vợ đâu mà sợ?

- Tôi sợ đến nỗi không dám lấy vợ.

Thursday, June 22, 2017

Ngày 22-6-2017 Suy Niệm Trong Ngày

Chuyện ngắn - Một bữa tối

MỘT BỮA TỐI

Anh có nghĩ là mình đã để quên gì không?

Một anh con trai đưa cha mình đến một nhà hàng ăn bữa tối. Người cha đã già và yếu lắm rồi, trong khi ăn, ông liên tục làm vãi thức ăn ra ngoài, dây trên quần áo của mình. Những người ăn tối khác nhìn ông với ánh nhìn đầy chán ghét trong khi người con lại bình thản.

Sau khi người cha đã dùng xong bữa, anh con trai không hề tỏ ra xấu hổ hay ngượng ngùng, anh lặng lẽ đưa cha mình vào phòng vệ sinh, phủi những vụn thức ăn, tẩy những vết bẩn bám trên áo cha, chải đầu cho ông, và chỉnh lại kính mắt của ông cho khỏi rớt. Khi họ bước ra ngoài, cả nhà hàng nhìn theo họ trong yên lặng hoàn toàn, không thể hiểu làm cách nào mà một người xa lạ lại có thể khiến họ mất mặt một cách công khai như vậy. Anh con trai thanh toán hóa đơn, chuẩn bị bước ra ngoài với cha mình.

Cùng lúc đó, một người đàn ông trung tuổi trong số những người đến ăn tối và cũng là người chứng kiến những hành động đó gọi với theo người con và hỏi anh ta, "Anh có nghĩ là mình đã để quên gì không?"

Người con trai trả lời, "Thưa ngài, tôi nghĩ là không hề."

Người đàn ông mỉm cười, đáp lại, "Không, anh có! Anh đã để lại một bài học lớn cho những ai làm con và niềm hy vọng cho những ông bố."

Cả nhà hàng lúc đó lặng đi sau lời đáp.

Biết quan tâm đến những ai đã từng quan tâm bạn là một trong những niềm vinh dự vĩ đại nhất. Chúng ta đều biết, bố mẹ quan tâm đến chúng ta dù là những điều nhỏ nhặt nhất. Yêu thương họ, tôn trọng họ, và quan tâm, chăm sóc cho họ, bạn nhé!

Huyền Văn dịch

Chuyện ngụ ngôn ý nghĩa

Kì tích

Trong một thị trấn nhỏ hoang vu ở nước Pháp có lưu truyền về một giếng nước vô cùng linh nghiệm, luôn xuất hiện điều kì lạ có thể chữa được bách bệnh. Một hôm, có một người lính giải ngũ mất một chân, chống gậy bước khập khiễng trên đường vào thị trấn ấy. Người dân đi bên cạnh trông thấy đồng tình nói chuyện với nhau: ”Thật đáng thương, có lẽ anh ta đến cầu xin ông trời ban cho cái chân khác cũng nên”. Người lính nghe được liền quay lại trả lời: ”Tôi không xin ông trời cho một cái chân mà muốn cầu xin ông trời nói cho tôi biết, sau khi mất một chân tôi phải làm thế nào để sống”.

Thiết nghĩ: học được cách biết ơn những thứ đã mất cũng là cách chấp nhận hiện thực. Cho dù người khác được hay mất cũng nên để bản thân luôn lạc quan vui vẻ, không đau khổ vì quá khứ đã qua mà cố gắng sống tốt cuộc sống của mình.

Tri Kiến Giác Ngộ - Minh Triết Trong Đời Sống

ĐỜI SỐNG VÔ DỤNG 

Một người nông dân đã lớn tuổi ông không thể làm việc ngoài đồng ruộng được nữa. Do vậy ông sử dụng ban ngày vào việc chỉ ngồi nơi hàng hiên. Con trai của ông, vẫn làm việc đồng ruộng, thỉnh thoảng nhìn lên và nhìn thấy người cha của anh đang ngồi nơi đó.

"Ông ta thì không dùng được nữa," người con nghĩ một mình, "Ông không làm gì hết!"

Một ngày nọ người con đã nản chí về điều này, anh ta đóng một cái quan tài gỗ, kéo nó để nơi hàng hiên, và nói với người cha của anh vào bên trong. Không nói điều gì, người cha trèo vào bên trong. Sau khi đóng nắp quan tài, người con kéo cái quan tài đến bờ rìa của cánh đồng nơi đó là vách đá cao nhô ra biển. Lúc anh gần như thả nó xuống, anh ta nghe tiếng vỗ nhẹ phát ra từ bên trong nơi nắp quan tài. Anh mở nắp ra. Vẫn nằm đó bình thản, người cha nhìn lên người con.

"Cha biết con sẽ liệng cha xuống vực thẳm, nhưng trước khi con làm điều đó, cha có thể cho con một gợi ý không?"

"Điều gì?" người con trả lời.

"Liệng cha xuống vực thẳm, nếu con thích," người cha nói, "Nhưng hãy để dành cái quan tài gỗ này. Các con của con có thể sẽ dùng tới nó." 

Cổ Học Tinh Hoa - Đánh dấu thuyền tìm gươm

Đánh dấu thuyền tìm gươm

Có người nước Sở đi đò qua sông. Khi ngồi đò, vô ý, đánh rơi thanh gươm xuống sông. Anh ta vội vàng đánh dấu vào mạn thuyền, nói rằng: "Gươm ta rơi ở chỗ nầy đây".

Lúc thuyền đỗ vào bến, anh ta cứ theo chỗ đánh dấu, lặn xuống nước tìm gươm. Thuyền đã đi đến bến, chớ gươm rơi đâu thì vẫn ở đấy, có theo thuyền mà đi đâu? Tìm gươm như thế, chẳng khờ dại lắm ư!

Lời Bàn:

Thanh gươm rơi xuống sông, thì ở ngay chỗ rơi. Nếu muốn tìm thấy gươm, tất phải lặn ngay xuống chỗ rơi mà tìm. Chớ sao lại đánh dấu vào thuyền, đợi đến lúc thuyền đỗ vào bến, mới lặn xuống bến tìm? Người tìm gươm nầy có khác nào như người đánh đàn sắt đem gắn cả ngựa lại, tưởng ngựa không di dịch được là các âm vận tự nhiên điều hòa được đúng! Than ôi! người cố chấp bất thông, chỉ câu nệ biết giữ chặt một cái đã nắm chặt trong tay, chớ không hiểu nghĩa chờ "thời" là gì?

Lã Thị Xuân Thu: Sách của Lã Bất Vi làm. Lã Bất Vi người đời nhà Tần thời Chiến quốc, trước là lái buôn to, sau làm tướng, chính là cha đẻ của Tần Thủy Hoàng. Khi làm quyển Lã Thị Xuân Thu xong, Bất Vi đem treo ở cửa Hàm Dương, nói rằng "Ai bớt được, hay thêm được một chữ, thì thưởng cho ngàn vàng".

Sở: một nước lớn thời Xuân Thu ở vào vùng Hồ Bắc, Hồ Nam bây giờ.

Thanh gươm: tục xưa người ta đi đâu cũng hay đeo gươm để thủ thân mà lại giữ lễ nữa.

Chuyện cười trong ngày

Hacker

Là chỗ thân tình, một con quỷ mời tay hacker trẻ thăm quan địa ngục. Chàng thanh niên nhìn thấy máy tính ê hề, mọi người đều ngồi chơi DOOM, vào Internet thoải mái, quậy mệt nghỉ… Cậu ta tuyên bố rằng khi chết sẽ vào địa ngục này.
-…30 năm sau, anh ta chết và được đưa tới địa ngục. Vẫn là khung cảnh xưa nhưng người đã khác, cơ man là quỷ dữ gào thét hè nhau đòi xé phay, hầm nhừ xương anh ta trong vạc dầu làm lẩu. Hacker hỏi bạn cũ:
- Sao lại thế này, những cảnh ông cho tôi xem đâu?
- Bọn chúng là người bị ăn cắp account, chủ ngân hàng bị bẻ khoá, nhà quản trị mạng… Họ chờ anh ở đây đã lâu rồi. Thôi thì dám làm dám chịu nhé!

Wednesday, June 21, 2017

Ngàu 21-6-2017 Suy niệm trong ngày

Chuyện ngắn - Có một tình yêu không thể nghi ngờ

CÓ MỘT TÌNH YÊU KHÔNG THỂ NGHI NGỜ

Khỏi phải nói, đây là đồ bà đã ăn qua khi đi đường. Mẹ Lưu Cương lúng túng cực độ, hai tay cứ túm chặt lấy gấu áo, lẩm bẩm nói: "Con yêu, đừng buồn mẹ làm vậy, quả thực trong nhà không còn gì để mang đi...".

***

Lưu Cương là một tội phạm cướp giật, vào tù 1 năm rồi nhưng chưa ai đến thăm anh ta cả. Nhìn thấy những bạn tù khác thường được người nhà đến thăm nuôi, mang rất nhiều đồ ăn ngon, mắt anh lộ rõ vẻ thèm muốn, bèn viết thư cho cha mẹ để họ đến thăm mình, không phải vì đồ ăn ngon mà vì nhớ họ.

Sau vô số lá thư biệt tăm không vết tích, anh ta hiểu rằng, cha mẹ đã vứt bỏ anh rồi. Trong lúc đau khổ và tuyệt vọng, anh lại viết một lá thư, nói rằng nếu cha mẹ không đến, cha mẹ sẽ mãi mãi mất đi đứa con này.

Đây chẳng phải là nói cho có vì mấy bạn tù trọng hình đã rủ rê anh ta vượt ngục, không phải chỉ một hai ngày, nhưng cái chính là anh không hạ quyết tâm được, bây giờ dù sao cha không thương mẹ không xót, chẳng vướng bận nữa, còn gì để lo lắng chứ?
Hôm đó trời rất lạnh. Lưu Cương đang cùng mấy người bạn "trọc đầu" (chỉ tù nhân) tính kế đào tẩu thì đột nhiên có người gọi lớn: "Lưu Cương, có người đến thăm anh!". Là ai?

Vào phòng thăm tù nhìn thoáng qua, Lưu Cương đờ người, là Mẹ! Một năm không gặp, Mẹ thay đổi đến mức không nhận ra nữa. Chỉ mới ngoài 50 tuổi thôi mà tóc đã bạc trắng cả, lưng còng hẳn xuống, thân hình gầy guộc tiều tụy, quần áo rách tả rách tơi, đôi chân đầy cáu bẩn và vết máu loang lổ, bên vai còn đeo hai cái túi vải rách nữa.

Mẹ nhìn Lưu Cương, chưa đợi anh mở miệng, đôi mắt đục ngầu đã rơi lệ, vừa lau nước mắt vừa nói: "Tiểu Cương, mẹ đã nhận được thư con, đừng trách cha mẹ nhẫn tâm, quả thực mẹ không dứt ra nổi để đi nữa, cha con... lại bệnh rồi, mẹ phải chăm sóc, hơn nữa đường lại xa..." .

Lúc này, chính trị viên bưng 1 bát mì trứng gà nóng nghi ngút đến, nhiệt tình nói: "Bác ơi, ăn mì đã rồi hẵng hay!" . Mẹ Lưu luống cuống đứng dậy, ra sức chà xát tay vào áo nói "Không tiện, không tiện đâu!". Chính trị viên đặt bát mì nóng vào tay bà, cười rằng: "Mẹ cháu cũng lớn tuổi như bác, ăn bát mì của con trai không được sao?". Mẹ Lưu không nói nữa, cúi thấp đầu húp xì xụp, ăn vừa nhanh vừa ngon lành, giống như đã rất lâu rồi không được ăn vậy.

Đợi mẹ ăn xong, Lưu Cương nhìn đôi mắt bà đỏ hoe sưng húp, đôi chân nứt nẻ những máu, nhịn không nổi hỏi: "Mẹ, chân của mẹ sao vậy? Giày đâu?". Không đợi bà mẹ trả lời, chính trị viên lạnh lùng nói tiếp: "Đi bộ đến đây, giày đã rách từ lâu rồi!". Đi bộ? Từ nhà đến đây ba bốn trăm dặm đường, hơn nữa còn có một đoạn đường núi rất dài!

Lưu Cương từ từ ngồi xổm xuống, nhè nhẹ xoa lên đôi chân rách bươm của Mẹ, nói: "Mẹ, sao mẹ không ngồi xe? Sao mẹ không mua giày?"

Bà co chân lại, làm ra vẻ không để ý nói: "Ngồi xe à, đi bộ tốt hơn nhiều, hầy, năm nay gặp bệnh heo truyền nhiễm, mấy đầu heo trong nhà chết cả rồi, trời gặp hạn, hoa màu cũng không thu được bao nhiêu, lại còn cha con... xem bệnh thì... tốn không ít tiền... Nếu cha con khỏe thì đã sớm đến thăm con rồi. Đừng phiền trách cha mẹ con nhé!".

Chính trị viên dụi dụi đôi mắt, lặng lẽ lui ra ngoài. Lưu Cương cúi thấp đầu hỏi: "Cha con đã khỏe hơn chưa?". Đợi rất lâu chẳng thấy mẹ trả lời, anh ngẩng đầu lên, thấy mẹ đang quệt nước mắt, nhưng miệng lại nói: "Bụi bay vào mắt rồi, con hỏi cha con à? Cũng sắp khỏe rồi, cha con nói là đừng bận tâm đến cha, cố gắng cải tạo cho tốt!".

Thời gian thăm nuôi đã hết. Chính trị viên bước vào, tay cầm một tờ tiền giấy mệnh giá lớn, nói: "Bác ạ, đây là chút lòng thành của quản giáo chúng cháu, bác không thể cứ đi bộ mà về nhà được, nếu không thì Lưu Cương sẽ đau lòng đến chết đó!" .

Mẹ Lưu cứ đung đưa hai tay, nói: "Sao thế được, con tôi ở chỗ các anh đã đủ làm các anh nhọc lòng rồi, tôi còn lấy tiền các anh thì sẽ tổn thọ mất!".

Chính trị viên run giọng nói: "Làm con mà không thể để bác sống hạnh phúc vui sướng mà còn khiến bác hoảng hốt lo sợ thế, để bác đi bộ suốt mấy trăm dặm đến đây, nếu lại để bác cứ thế này mà về thì đứa con đó có còn được xem là người không?".
Lưu Cương không kiềm chế được nữa, khàn giọng gào lên: "Mẹ!" nhưng không ra tiếng, lúc này ngoài cửa sổ vang lên tiếng khóc thút thít, đó là tiếng khóc của các chính trị viên đứng quan sát từ nãy giờ. Khi đó, một viên quản giáo đi vào phòng, cố nói một cách vui tươi: "Thôi đừng khóc nữa, mẹ đến thăm con trai là chuyện vui rồi, nên cười mới phải chứ. Để cháu xem bác mang đến món ngon nào nào" rồi vừa nói vừa dốc ngược túi xuống. Mẹ Lưu Cương ngăn không kịp, toàn bộ đồ đạc đều rơi ra cả, ngay tức khắc, mọi người đều sững sờ...

Túi thứ nhất mở ra, tất cả đều là màn thầu, mì, bánh các loại, cái nào cái nấy đều tã tượi, cứng như đá, hơn nữa từng cái từng cái cũng khác nhau. Khỏi phải nói, đây là đồ bà đã ăn qua khi đi đường. Mẹ Lưu Cương lúng túng cực độ, hai tay cứ túm chặt lấy gấu áo, lẩm bẩm nói: "Con yêu, đừng buồn mẹ làm vậy, quả thực trong nhà không còn gì để mang đi...".

Lưu Cương dường như không nghe thấy, chỉ chăm chăm nhìn vào đồ trong túi thứ 2, đó là một hũ tro cốt! Anh ngơ ngẩn hỏi: "Mẹ, đây là gì thế?" Mẹ Lưu Cương sắc mặt hoảng hốt, chìa tay ôm lấy hũ tro: "Không... không có gì...". Lưu Cương phát điên lên giành lại, toàn thân run rẩy: "Mẹ, đây là gì?".

Mẹ Lưu Cương ngồi phịch xuống đờ đẫn, mái tóc hoa râm co giật dữ dội. Rất lâu sau bà mới cố gắng nói: "Đó là... cha con! Để kiếm tiền đi thăm con, cha con đã cật lực làm ngày làm đêm, toàn thân suy sụp cả. Trước khi chết, cha con nói không được nhìn thấy con nên trong lòng rất buồn, dặn mẹ sau khi chết nhất định phải đem cha đến chỗ con, nhìn con một lần cuối cùng..."

Lưu Cương bật ra tiếng khóc xé nát tâm can: "Cha... con sửa..." tiếp theo "phịch" một tiếng phủ phục xuống, đập đầu xuống đất "bình bình", chỉ thấy bên ngoài phòng thăm nuôi dần dần tối đen, tiếng khóc đau thương thấu tận trời xanh...

Chuyện ngụ ngôn ý nghĩa

Cá và cá mập

Có người từng làm thí nghiệm, đem một con cá mập to lớn nhốt chung trong hồ với một đàn cá nhiệt đới sau đó chắn ở giữa bởi một tấm kính dày. Ban đầu, ngày nào con cá mập cũng không ngừng đâm vào tấm kính trong suốt ấy, dù thế nào cũng vô ích, nó không thể qua được phía bên kia. Hơn nữa, người thực nghiệm mỗi ngày đều thả ít cá diếc vào hồ nên cá mập không bao giờ thiếu thức ăn, chỉ là nó vẫn muốn tiến về phía trước để nếm thử mùi vị hấp dẫn, mỗi ngày vẫn không ngừng đâm vào tấm kính theo mọi góc cạnh, lần nào cũng đều dùng hết sức lực. Nhưng sau mỗi lần nó đều bị thương mệt mỏi, nhiều khi còn bị thương chảy máu khắp người. Cho đến một hôm trên tấm kính xuất hiện vết nứt, anh ta lập tức chắn thêm một tấm kính dày hơn. Sau đó, con cá mập không đâm và tấm kính nữa, nó cũng không để tâm tới đàn cá vằn nhiệt đới bên kia mà giống bức tranh trên tường biết cử động. Nó bắt đầu chờ đợi cá diếc được thả xuống hồ theo giờ cố định mỗi ngày rồi dùng bản năng nhanh nhẹn của mình để bắt chúng như trở về khí thế dũng mãnh vô địch dưới biển. Song tất cả chỉ như bức tượng giả bày ra đó mà thôi! Đến giai đoạn cuối của thí nghiệm, người ấy bỏ tấm kính ra nhưng cá mập cũng không có phản ứng gì. Mỗi ngày nó vẫn bơi trong khu vực cố định, không những không đếm xỉa đến cá nhiệt đới thậm chí khi đàn cá diếc bơi qua nó cũng không buổi bắt. Làm thế nào nó cũng không chịu qua bên kia. Thí nghiệm kết thúc, người thực nghiệm cười nhạo cá mập là con cá hèn nhát nhất biển khơi. Nhưng chỉ có người đã từng thất tình mới biết nguyên nhân, là do nó sợ đau.

Tri Kiến Giác Ngộ - Minh Triết Trong Đời Sống

TỤNG KINH

Một người nông dân thỉnh một Thầy thuộc giáo phái Tendai về tụng kinh cho vợ, người vừa mới qua đời. Sau khi tụng kinh đã xong, người nông dân hỏi: "Thầy có nghĩ rằng vợ tôi sẽ được phước vì việc này không?"
"Không những chỉ vợ anh, mà tất cả chúng sinh hữu tình đều được hưởng phước trong việc tụng kinh," Thầy trả lời.

"Nếu thầy nói mọi chúng sinh hữu tình đều được hưởng phước," người nông dân nói, "vợ tôi có lẽ rất yếu đuối và những người khác sẽ dành mất phần của bà ấy, tranh phần phước mà bà ấy đáng lẽ được hưởng. Cho nên xin thầy làm ơn chỉ tụng kinh cho bà ấy thôi."

Vị Thầy giải thích rằng mong ước của một người Phật tử là hồi hướng phước báu và công đức cho tất cả mọi chúng sinh.

"Đó là một lời dạy cao thượng," người nông dân kết luận, "nhưng xin Thầy hãy cho một ngoại lệ. Tôi có một người hàng xóm hắn thô lỗ và xấu ác với tôi. Chỉ xin thầy loại bỏ tên đó ra khỏi thành phần chúng sinh hữu tình kia vậy."

Điển Hay Tích Lạ - Tuyệt Diệu Hảo Từ

Tuyệt Diệu Hảo Từ

Thái Diễm cũng gọi là Thái Văn Cơ, một nữ sĩ tài hoa đời Tam Quốc (220-264). Cha nàng là Thái Ung, có tài thẩm âm vào bực nhứt cổ kim. Tương truyền, thấy một người chụm củi, ông bảo: "Tôi nghe tiếng củi đó nổ, biết là củi tốt, sao đem chụm cho uổng". Ông xin khúc củi về, làm một cây đàn, tiếng rất trong.
Nàng Thái Diễm lên 8 đã giỏi đàn. Có chồng là Vệ Đạo Giới nhưng lại góa chồng sớm, không con. Đương lúc Đổng Trác nổi loạn, nàng bị rợ phương bắc bắt về đất Phiên, phải sống tủi nhục ở với Hung Nô. Nàng nhớ quê hương, mới làm ra 18 khúc kèn rợ Hồ. Những bản nhạc này truyền vào Trung Nguyên. Tào Tháo là chúa nước Ngụy, trước vốn là bạn thân của cha nàng, nay lại thưởng thức bản nhạc, động lòng thương xót, mới sai người đem ngàn lượng vàng lên phương bắc chuộc nàng về.
Vua đất Hồ là Tả Hiền vương vốn sợ uy thế của Tào Tháo phải cho người đưa nàng về Hán. Tháo lại đứng làm chủ gả nàng cho Đổng Kỷ.
Khi về nước, nàng Thái Diễm có làm bài "Bi phẫn thi" dài 540 chữ, tả nỗi long đong của nàng, lời cực kỳ thống thiết, mỗi chữ như một giọt lệ.

Dục tử bất năng đắc,
Dục sinh vô nhứt khả.
Bỉ sương giả ha cô?
Nãi lao thử ách họa!
Nghĩa:
Muốn chết mà không được,
Muốn sống thêm vất vả.
Hỡi trời xanh tội gì?
Bắt ta gặp tai họa!
Hồ phong xuân hạ khởi,
Phiên phiên suy ngã y,
Túc túc nhập ngã nhĩ.
Cảm thời niệm phụ mẫu,
Ai thán vô cùng dĩ!
Nghĩa:
Xuân hạ, gió Hồ nổi,
Phất phất tà áo ta.
Ào ào bên tai thổi,
Cảm xúc sinh nhớ nhà,
Cùng khổ thay nông nỗi.
(Bản dịch của Nguyễn Hiến Lê)
Một hôm, Tào Tháo đem quân đánh Lưu Bị, tiện đường ghé thăm. Đổng Kỷ làm quan xa chỉ có nàng ở nhà. Nghe tin Tháo đến, nàng vội ra rước vào. Tháo ngồi trên sập, nàng thi lễ xong chắp tay đứng hầu bên. Tháo nhìn lên vách, chợt thấy một tấm bìa treo, có ghi bài văn bia, bèn đứng dậy bước đến xem và hỏi nguồn gốc. Thái Diễm thưa:
- Đây là bài văn bia đề một nàng Tào Nga. Xưa đời Hòa Đế, ở vùng Thượng Ngu có một người đồng bóng tên Tào Vu, hay lên đồng nhảy múa. Một hôm vào ngày mồng 5 tháng 5, Vu say rượu, đứng múa may trên thuyền, sẩy chân té xuống sông chết. Cô con gái của Vu vừa lên 14 tuổi, quá thương cha, cứ đi dọc bờ sông kêu khóc suốt 7 ngày đêm, rồi nhảy xuống nước mất tích. Qua 5 ngày sau, bỗng thấy nàng đội xác cha nổi lên mặt sông. Người trong làng vớt xác cả hai chôn cất. Quan huyện Thượng Ngu là Đỗ Thượng tâu việc ấy về triều. Triều đình khen nàng Tào Nga là gái hiếu, truyền cho lập bia. Đỗ Thượng lại sai Hàn Đan Thuần làm bài văn khắc vào bia để ghi lại việc ấy. Hàn Đan Thuần bấy giờ mới 13 tuổi, cầm bút viếc ngay một hơi thành bài văn, chẳng phải sửa chữa một chữ. Đỗ Thượng chịu là hay, cho khắc vào bia dựng bên mộ nàng Tào Nga. Thời bấy giờ, ai đọc cũng lấy làm lạ. Tiếng văn hay đồn dậy xa gần... Phụ thân thiếp nghe tiếng cũng tìm đến xem, gặp lúc trời tối, không nhìn thấy chữ, phải sờ vào bia, lần từ nét mà đọc. Đọc xong, người lấy bút viết 8 chữ lớn vào sau lưng bia. Về sau, có người khắc cả 8 chữ vào đấy.
Tào Tháo thấy 8 chữ ấy cũng ghi trên bức bia, bên cạnh bài văn như sau: "Hoàng quyến, ấu phụ, ngoại tôn, tê cửu".
Tháo hỏi Diễm:
- Nhà ngươi có hiểu ý nghĩa 8 chữ này không?
Nàng thưa:
- Tuy là di bút của cha, nhưng thú thật thiếp cũng hiểu ý nghĩa ra sao.
Tháo quay lại hỏi các mưu sĩ, mọi người đều chịu không biết. Bấy giờ có quan Chủ bạ là Dương Tu lên tiếng:
- Tôi hiểu ra rồi.
Tu giải:
- Tám chữ đó là ẩn ngữ của Thái Ung. "Hoàng quyến" là lụa màu vàng, tức là màu sắc của tơ (ti sắc), chữ "ti" với chữ "sắc" hợp lại thành chữ "tuyệt". "Ấu phụ" nghĩa là con gái còn nhỏ, tức là "thiếu nữ". Chữ "thiếu" đứng bên chữ "nữ" hợp thành chữ "diệu". "Ngoại tôn" là cháu ngoại. Cháu ngoại tức là đứa con của con gái mình (nữ nhi tử). Chữ "nữ" chắp với chữ "tử" thành chữ "hảo". "Tê cửu" là cái cối giã hành tỏi. Cái cối là vật chịu cay (thụ tân). Chữ "thụ" đặt bên chữ "tân" thành chữ "từ". Tóm lại, đó là ẩn chữ "Tuyệt diệu hảo từ", tức Thái Ung đã hết lời khen tặng văn chương của Hàn Đan Thuần vậy.
Mọi người đều khen Dương Tu tài thức mẫn tiệp. 

Chuyện cười trong ngày

Trứng

Người mẹ vừa đi chợ về.
- Con: Mẹ có mua trứng về cho con ko đấy ?
- Mẹ: Con đã có đầy vở rồi còn gì ?
- Con: ??

Tuesday, June 20, 2017

Ngày 20-6-2017 Suy Niệm Trong Ngày

Chuyện ngắn - Am Ni Cô

Am Ni Cô

Trên núi có trúc, trúc là trúc tía. Dưới núi có am, am là am ni cô.
Trong am ni cô có hai ni cô, ni cô già năm mươi tuổi là sư phụ, ni cô trẻ mười sáu tuổi là học trò. Hai thầy trò ngày nào cũng làm bài, tụng kinh và tiếp nhận đồ lễ của một vài khách hành hương. Họ sống những này dài dằng dặc trong tiếng chuông buổi sớm và tiếng trống ban chiều..
Trước am là một dòng sông, bên sông có một mái nhà tranh, trước nhà tranh là một vạt ruộng vườn mới vỡ hoang. Một cặp vợ chồng trẻ, mùa xuân gieo cấy, mùa thu gặt hái trên thửa ruộng mảnh vườn. Ngày tháng cứ vui vẻ trôi đi trong tiếng nói tiếng cười của hai vợ chồng.
Ở nơi vắng vẻ, nến sáng lửa xanh, ni cô trẻ làm bài thường bị tiếng cười nói vui vẻ bay trên cánh đồng gây nhiễu tâm tư. Cô thầm nghĩ: cuộc sống chồng cày ruộng, vợ dệt cửi hạnh phúc thật!
Ni cô trẻ thường ra sông kín nước, nên hay gặp đôi vợ chồng trẻ cày cấy ở ruộng. Lâu dần họ đã quen nhau, ngày mưa ngày gió, anh nông dân trẻ còn giúp ni cô gánh nước vào chùa. Một hôm ni cô trẻ lại ra bờ sông kín nước, đôi vợ chồng trẻ cũng vừa vặn nghỉ giải lao ở bờ sông. Thế là có một cuộc nói chuyện thú vị.
Anh nông dân hỏi:
-Hằng ngày chú tiểu làm gì trong chùa?
Ni cô đáp:
-Làm bài, tu đạo, cầu kiếp sau…
Anh nông dân hỏi lại:
-Cầu nhân duyên mỹ mãn phải không?
Ni cô lại trả lời:
-Người đi tu thanh tâm, ít ham muốn.
-Cầu quan to lộc dày phải không?
-Tăng ni kiêng cấm, danh lợi mờ nhạt.
-Vậy thì cầu vinh hoa phú quý chăng?
-Cửa phật coi trọng yên tĩnh, thanh thản.
Anh nông dân cả cười:
-Phải chăng chú tiểu cầu mong kiếp sau lại làm chú tiểu?
Trong mắt ni cô trẻ càng mơ màng, mờ mịt, cô nhìn am ni cô vắng vẻ dưới núi, thở dài thầm nghĩ: Mình tu tâm dưỡng tính, nếu kiếp sau còn làm chú tiểu, vậy thì hôm nay còn cầu làm gì nữa?
Ni cô trẻ khe khẽ lau giọt lệ trong vắt trên hai má, gánh nước về am. Trên bờ sông, cuộc đối thoại của cặp vợ chồng trẻ còn tiếp tục, chỉ có điều tăng mùi vị trêu ghẹo.
Anh hỏi:
-Nếu có kiếp sau thật, em cầu gì?
Chị đáp:
-Anh đoán xem…
-Cầu quan to lộc dầy chứ?
Chị lắc đầu.
-Cầu vinh hoa phú quý chứ?
Chị vừa lắc đầu, vừa xua tay.
Anh “ồ” một tiếng:
-Anh hiểu rồi, chắc chắn là em cầu kiếp sau làm một ni cô trẻ thanh tĩnh…
Chị giơ nắm tay nhỏ đấm trên ngực anh, nói:
-Bậy nào, bậy nào, anh bậy thật!
Anh chộp luôn tay chị, hỏi dồn:
-Vậy rút cuộc, em cầu gì?
Chị đỏ ửng mặt, đáp:
-Không cầu quan to, không cầu giàu sang, chỉ cầu kiếp sau nhân duyên tốt lành, chỉ cầu kiếp sau lại làm vợ anh….chị vừa nói vừa ngả vào lòng anh, hai anh chị cùng nô nghịch, cứ xoắn xuýt vào nhau trên bãi sông.
Cuộc đối thoại trên bờ sông và cuộc vui đùa của đôi vợ chồng trên bãi sông đã làm xáo động trái tim xuân của ni cô trẻ, tới mức cô cứ bần thần, háo hức, không còn tâm tư nào ngồi yên làm bài, không còn chăm chỉ tu đạo. Ni cô già nhận thấy người học trò này đã hết duyên phận với cửa Phật, liền đưa cô ra khỏi am.
Ni cô trẻ bơ vơ không nơi nương tựa, tạm dừng chân trong gia đình anh nông dân nhà tranh vách nứa bên sông. Ni cô trẻ không còn là ni cô trẻ nữa, vợ chồng anh nông dân liền gọi cô là Tiểu nê.
Cùng với vợ chồng nông dân trẻ. Tiểu nê mặt trời mọc ra đồng, mặt trời lặn về nghỉ. Cơm nhạt trà thô của nhà nông, khiến Tiểu nê càng khỏe đẹp ra, mái tóc xanh mượt mà dần dần mọc trên đầu khiến cô trở thành một người xinh đẹp thật sự.
Người đàn bà đã hoàn tục, thì có tính tình của con người thường. Người đàn bà có tính tình của con người thường sẽ dễ dàng tạo ra chuyện của con người thường. Chuyện của con người thường phần đông cứ na ná như nhau. Câu chuyện và chi tiết tầm thường đến mức không chịu nổi, xin miễn kể tỉ mỉ ở đây. Tóm lại có một hôm, ông mặt trời tỏa nắng rực rỡ xuống trái đất, con chim trên cây cũng hót líu lo vui tai. Chị chủ nhà đi chợ mua muối về, vừa bước vào trong ngôi nhà tranh đã kêu giãy nảy lên một tiếng, tiếp theo là tiếng khóc kéo dài. Tiếng khóc cứ bám riết lấy bước chân của người đàn bà như nổi cơn điên, loạng chả loạng choạng chạy ra bờ sông. Chị định nhảy xuống sông, nhưng nước sông lại cạn. Chị lại lảo đà lão đảo leo lên vách núi, chị định nhảy từ vách núi xuống, song vách núi không cao. Sau đó chị đã chạy vào am ni cô dưới chân núi.
Ở nơi vắng vẻ, nến sáng lửa xanh. Ni cô già sống những ngày hết sức tĩnh mịch rất muốn biết người đàn bà đang đứng trước mặt có hy vọng gì đối với kiếp này và kiếp sau:
-Xin hỏi nữ thí chủ, chịu ở tạm thời, hay ở lâu dài trong am nhỏ này?
Chị đáp:
-Ở lâu dài, xin thầy thu nhận con là học trò, thưa thầy!
Ni cô già lại hỏi:
-Chị vào cửa Phật cầu quan to lộc dầy phải không?
Chị lắc đầu. Ni cô già lại hỏi:
-Cầu vinh hoa phú quý chứ?
Chị vẫn lắc đầu:
-Vậy thì cầu kiếp sau có nhân duyên mỹ mãn chăng?
Lời ni cô già chưa dứt, thì nước mắt đau đớn của chị đã tuôn trào…
Trên núi có trúc, trúc là trúc tía. Dưới núi có am, am là am ni cô. Trong am có hai ni cô, một ni cô già, một ni cô trẻ mới đến, ngày nào họ cũng làm bài, tụng kinh, cầu kiếp sau….


Nguồn http://truyenhay.vn/am-ni-co.html#ixzz4jFxv0TOb 
Bài viết từ : TruyenHay.Vn - Website đọc truyện hay online 

Chuyện ngụ ngôn ý nghĩa

QUẠ VÀ THIÊN NGA

Một con Quạ, đen như than, nó ganh ghét với một con Thiên Nga, vì bộ lông của Thiên Nga luôn trắng đẹp như bông.

Quạ ngu ngốc một hôm bỗng nảy ra một ý nghĩ rằng nếu nó cứ sống như Thiên Nga, tức là cứ bơi lội và vùng vẫy suốt ngày trong nước, và ăn cây cỏ rong rêu mọc dưới nước, ắt bộ lông nó sẽ trắng ra như bộ lông của Thiên Nga vậy. Thế là Quạ liền bỏ rừng bay về vùng sông hồ và đầm lầy để sống.

Nhưng dù cho nó ra sức tắm giặt suốt ngày này qua ngày khác bộ lông của nó vẫn cứ đen như ngày nào vậy.

Và khi rong rêu trong nước ăn vào không phù hợp với cái dạ dày của nó, nó càng ngày càng gầy đét, và cuối cùng, ngã lăn ra chết.

Lời bàn:

Chỉ vì ảo tưởng những thứ mình không thể có được mà có những hành động ngu ngốc, cuối cùng cũng chỉ thiệt bản thân mà thôi.

Tri Kiến Giác Ngộ - Minh Triết Trong Đời Sống

PHẬT SỐNG VÀ NGƯỜI THỢ ỐNG


Vị thiền sư đưa ra bản hướng dẫn cá nhân trong lớp ẩn tu. Không ai được vào lớp khi thiền sư và các môn đệ đang họp.

Mokurai, vị thiền sư của ngôi chùa Kennin tại Kyoto, quen với sự thích thú tản bộ với các thương buôn và các nhà báo cũng như với các thiền sinh của ông. Một người thợ ống nào đó là người thất học. Anh ta đã hỏi Mokurai những câu hỏi xuẩn ngốc, có trà không, và rồi anh ta bỏ đi.

Một ngày nọ trong khi người thợ làm ống ở đó thiền sư Mokurai muốn đưa bản hướng dẫn cá nhân cho người đệ tử, do vậy ông nói người thợ đến chờ trong một phòng khác.

"Tôi hiểu rằng Ngài là vị Phật sống." người thợ phản đối. "Ngay cả những tượng Phật bằng đá ở trong ngôi chùa cũng không bao giờ khước từ số người đông đảo tới tụ họp trước họ. Tại sao tôi bị tống ra?"

Mokurai đã bỏ ra ngoài để gặp người đệ tử của mình

Điển Hay Tích Lạ - Ái ốc cập điếu

Ái ốc cập điểu

Câu thành ngữ này có xuất xứ từ truyện "Thượng Thư".

Cuối triều nhà Thương thế kỷ 11 trước công nguyên, các nước chư hầu phía tây đứng đầu là Cơ Xương đang ráo riết chuẩn bị lật đổ ách thống trị tàn bạo của vua Trụ, nhưng khi còn chưa khởi binh thì Cơ Xương tạ thế, con trai là Cơ Phát lên nối ngôi tức Chu Vũ Vương, nhà vua đã liên kết với các nước chư hầu và dưới sự giúp đỡ của Khương Thượng, trợ tá của Khương Thái Công, đã đánh cho quân Thương thất bại thảm hại, vua Trụ phải tự sát.

Sau khi vua Trụ chết, Chu Vũ Vương vẫn cảm thấy thiên hạ chưa được thái bình mới hỏi Khương Thượng rằng: "Khi tiến vào Ân Đô, nên cư xử thế nào với người nhà Thương?".

Khương Thượng đáp: "Tôi nghe nói, nếu đã yêu mến một người nào đó thì ngay đến con quạ trên nhà người ấy cũng trở nên đáng yêu, nếu đã chán ghét một người nào đó thì ngay đến tường nhà và hàng rào nhà người ấy cũng trở nên đáng ghét. Ý tôi muốn nói là giết sạch, đại vương thấy thế nào?"

Chu Vũ Vương không tán thành cách làm này.

Triệu Công đứng bên thấy vậy nói : "Theo tôi thì giết kẻ có tội, tha người vô tội, đại vương thấy thế nào?".

Chu Vũ Vương cũng không đồng ý cách làm này.

Chu Công đứng dậy nói: "Tôi cho rằng nhà vua không nên bênh vực bạn thân và người nhà của mình, phải lấy nhân đức cảm hóa thiên hạ".

Chu Vũ Vương gật đầu chấp nhận ý kiến này, không sát hại một người nhà Thương nào, khiến thiên hạ nhanh chóng trở nên thái bình.

Chuyện cười trong ngày

Huề thôi..

Nha sĩ nổi quạu nói với khách hàng :
- Tại sao lần trứơc ông trả cho tôi những 2 tờ bạc giả?
Ông khách tỉnh bơ :
- Thì cũng huề thôi, ông nghĩ răng của ông là thật à??!!

Monday, June 19, 2017

Ngày 19-6-2017 Suy Niệm Trong Ngày

Chuyện ngắn - Chuyện tình đầy cảm động có thật

Chuyện tình đầy cảm động có thật

Họ gặp nhau trong một bệnh viện   khi đang đi dạo. Cả hai đang ở độ tuổi 17. Trong một chớp mắt, bốn mắt   nhìn nhau, hai trái tim non trẻ rộn lên một niềm xúc động sâu sắc.
Họ đọc trong mắt nhau một nỗi thương cảm bi ai. Kể từ hôm đó họ không   còn cô đơn nữa.

Đến một ngày cả hai được thông báo rằng bệnh tình của họ không có cách   nào chữa trị nữa. Trước khi được gia đình đón về nhà, họ ngồi bên nhau   một buổi tối, hẹn hò cùng nhau cố gắng vượt qua số phận. Họ hứa sẽ mỗi   tuần viết cho nhau hai lá thư để chúc phúc và động viên nhau. Rồi hôm   sau họ chia tay nhau.

Thấm thoắt đã ba tháng trôi qua. Cô gái ngày càng yếu ớt. Một hôm cô gái   cầm trong tay bức thư của chàng trai gửi đến rồi thanh thản khép đôi bở   mi, miệng thoáng mỉm cười mãn nguyện. Bà mẹ cuống cuồng gọi con, nhưng   cô gái đã ra đi. Bà gỡ lá thư trong tay cô ra và đọc: " ... Khi số phận   đã đùa giỡn với sinh mệnh của em, em không nên sợ hãi vì bên cạnh em   luôn có anh và mọi người quan tâm đến em. Anh đang khoẻ dần lên, anh sẽ   đến với em một ngày gần đây, em sẽ không cô đơn".

Hôm sau bà mẹ mở tủ của con gái, phát hiện ra vài chục lá thư đều do con   gái bà viết, bỏ sẵn vào phong bì, dán tem đàng hoàng. Phía trên tập thư   là mẩu giấy cô con gái viết cho bà mẹ. "Mẹ ơi, đây là tập thư con viết   cho một người bạn trai mà chúng con đã có lời hẹn ước đi cùng nhau suốt   quãng đời còn lại. Nhưng con thấy mình yếu đi nhanh chóng, sợ không giữ   được lời hứa ấy. Con đã viết sẵn những lá thư này, mỗi tuần mẹ gửi giúp   con một lá cho anh ấy để anh ấy nghĩ con vẫn còn sống và đang động viên   anh ấy vượt lên trên bệnh tật. Con chỉ mong anh ấy có đủ niềm tin để   sống tiếp. Con gái của mẹ".

Bà mẹ lần theo địa chỉ ghi trên bì thư để đến nhà chàng trai. Bà nhìn   thấy trên bàn là một tấm ảnh của một thanh niên trẻ, tràn đầy sinh khí   và sức sống được viền dải băng đen. Bà vô cùng ngạc nhiên khi biết chàng   trai đã ra đi cách đây một tháng. Bà mẹ chàng trai nước mắt lưng tròng   chỉ vào chồng thư đặt bên cạnh khung ảnh và kể rằng: "Con trai tôi đã   mất cách đây một tháng, nhưng trước khi ra đi, nó dành ba ngày ba đêm để   viết những lá thư này. Nó nhờ tôi mỗi tuần gửi cho cô bạn gái nào đó   một lá. Nó bảo cô gái ấy cũng đang trông mong chờ đợi sự cổ vũ động viên   của nó. Thế là cả tháng nay tôi thay con trai gửi những lá thư này đi,   không biết cô gái ấy có nhận được không..."

Bà mẹ của cô gái lao đến ôm chầm lấy bà mẹ của chàng trai và khóc không   thành tiếng. Khi hai bà mẹ đã hiểu ra tất cả, hai bà quyết định vẫn cứ   hàng tuần gửi cho nhau một lá thư mà con họ đã để lại. Họ bảo làm như   thế để "Vì một ước nguyện cao cả..."

 Nguồn: Sưu Tầm

Nguồn http://truyenhay.vn/chuyen-tinh-day-cam-dong-co-that.html#ixzz4jFx3x1Ot 
Bài viết từ : TruyenHay.Vn - Website đọc truyện hay online 

Chuyện ngụ ngôn ý nghĩa

CON QUẠ THÔNG MINH

Một con quạ đang khát nước. Nó bay rất lâu để tìm nước nhưng chẳng thấy một giọt nước nào. Mệt quá, nó đậu xuống cành cây nghỉ. Nó nhìn quanh và bỗng thấy một cái bình ở dưới một gốc cây.

Khi tới gần, nó mới phát hiện ra rằng cái bình có chứa rất ít nước, và nó không thể chạm mỏ đến gần đáy mà uống được. Nó thử đủ cách để thò mỏ được đến mặt nước, nhưng mọi cố gắng của nó đều thất bại.

Nhìn chung quanh, quạ thấy những viên sỏi nhỏ nằm lay lắt ở gần đấy. Lập tức, nó dùng mỏ gắp một viên sỏi thả vào bình. Cứ như vậy, nó gắp những viên sỏi khác và tiếp tục thả vào bình.

Chẳng bao lâu, nước đã dâng lên đến miệng bình. Giờ thì nó có thể thò mỏ vào để uống. Quạ rất vui sướng khi nhìn thấy công sức của mình đã có kết quả. Quạ uống thỏa thích những giọt nước mát ngọt rồi bay lên cây nghỉ ngơi.

Tri Kiến Giác Ngộ - Minh Triết Trong Đời Sống

LÁ THƠ CHO NGƯỜI SẮP CHẾT

Bassui viết lá thơ sau đây cho một đệ tử của mình người sắp chết:

"Thực chất tâm của con thì không sanh, do vậy nó sẽ không bao giờ chết. Nó thì không là vật có thật, để mà có thể bị diệt vong. Nó không là một sự trống rỗng, mà chỉ gần như là một khoảng không. Nó không có màu sắc cũng không hình dáng. Nó không hưởng thụ khoát lạc và không đau khổ vì đau đớn.

"Ta biết con rất khó chịu. Giống như một thiền sinh giỏi, con đang đương đầu với sự đau ốm trực tiếp. Con có thể không biết chính xác ai đang đau khổ, nhưng con tự hỏi: Cái gì là thực chất của tâm? Chỉ nghĩ tới điều này thôi. Con không cần nhiều hơn. Không thèm muốn gì. Sự kết thúc của con thì vô tận thì giống như bông tuyết hòa tan trong không khí trong sạch

Điển Hay Tích Lạ - Nhất nhật thiên lý

Nhất nhật thiên lý


Nguyên ý của câu thành ngữ này là chỉ con ngựa chạy rất nhanh, một ngày có thể đi được ngàn dặm. Nay thường dùng để ví về người tiến bộ nhanh hoặc sự nghiệp phát triển vượt bậc.

Câu thành ngữ này có xuất xứ từ "Sử ký-Thích khách liệt truyện".

Thời Chiến Quốc, thái tử Đan nước Yến đang làm con tin tại nước Việt đã quen biết với Tần Vương Chính cũng đang làm con tin tại nước Triệu. Về sau, Tần Vương Chính trở về nước Tần lên ngôi vua, sau thái tử Đan lại bị đưa sang nước Tần làm con tin. Vua Tần không những không nghĩ đến quan hệ cũ, mà còn gây khó dễ cho thái tử Đan, thái tử Đan thấy vậy bèn trốn về nước Triệu, rồi tìm cách để báo thù. Ít lâu sau, nước Tần đã lần lượt thôn tính được các nước Tề, Sở, Hàn v v và sắp tiến đánh nước Yến.

Vua nước Yến vô cùng lo ngại, thái tử Đan mới hỏi thầy mình là Cúc Vũ nên làm thế chống lại quân Tần thì Cúc Vũ nói : "Tôi có một người bạn tên là Điền Quang rất lắm mưu mẹo, thái tử hãy đến mà hỏi ông ta. Khi thái tử Đan đến hỏi Điền Quang thì ông im lặng hồi lâu, rồi kéo thái tử ra ngoài sân chỉ vào con ngựa đang buộc dưới gốc cây nói rằng: "Đây là một giống ngựa tốt, khi còn ít tuổi thì chạy được rất nhanh, nhưng khi nó già nua rồi thì ngay đến con ngựa tồi nhất nó cũng không đuổi kịp, thái tử có biết vì sao không?".

 Thái tử Đan đáp rằng: "Đó là vì nó đuối sức". Điền Quang nói: "Đúng vậy, những gì thái tử nghe nói về tôi đều là chuyện thời tôi còn trẻ, bây giờ tôi đã già yếu rồi thì còn được tích sự gì, nhưng tôi muốn đề cử một người bạn của tôi tên là Kinh Kha, ông ta có thể trợ giúp thái tử việc này". Thái tử Đan nghe xong bèn mời Kinh Kha đi mưu sát vua Tần.

Chuyện cười trong ngày

Tiết kiệm

- Thầy: Em hãy lấy ví dụ minh họa cho tiết kiệm
- Trò: Thưa thầy! Em có 1 chậu nước, đầu tiên em rửa mặt, sau đó vo gạo, rửa bát và sau đó em mang tưới cây ạ.

Sunday, June 18, 2017

Ngày 18-6-2017 Suy Niệm Trong Ngày

Chuyện ngắn - Dòng sông quê hương

Dòng sông quê hương

Hồi tôi còn nhỏ cũng thế, nếu không sợ mẹ đau lòng thì tôi đã không đem đổ cả lũ tượng đất lớn nhỏ mà tôi hì hụi nắn được trong góc vườn. Bắt đầu biết nghịch đất sét, tôi đã mày mò nặn con chó, con mèo, nặn hình ông Thọ, cô tiên.
Bé Dung người mảnh dẻ, khuôn mặt nhỏ. Đôi mắt to, đen và có cái nhìn mới sáng làm sao.
Mẹ tôi mỗi lần nhìn vẻ sáng ấy cứ thì thầm nói với tôi: "Sao cứ như là ba con đang nhìn?"
- Mẹ cho em ăn uống đầy đủ lắm mà sao em cứ gầy.

"Khi con còn nhỏ mẹ đâu có chăm kỹ như thế này phải không?" Có lần tôi hỏi khi thấy mẹ buộc khăn vào cổ em, rồi chọn gắp từng miếng thức ăn bỏ vào cái chén kiểu trước mặt. Mẹ bảo: "Em khác, con khác". Mắt mẹ thoảng vẻ buồn.

Cái dáng gầy của mẹ ra vào trong nhà ngoài sân thật đúng như người xưa vẫn ví von: mình hạc xương mai. Lớn lên một chút, tôi thường nghĩ mẹ tôi là con hạc từ trên trời bay lạc xuống đậu trên mảnh đất gồ ghề đầy sóng gió là cha tôi. Cả đời lúc nào tôi cũng mang một ám ảnh. Trong máu của mình, mẹ hay là cha đang ngự trị?

Nhà tôi ở trên bờ sông lớn có con đập chắn ngang. Khi cơn mưa đầu mùa dội về, nước sông cuộn lên vỗ ào ạt như rồng dữ lồng lộn xô mạnh vào bờ đá. Nghe mưa dội ào ào trên mái hiên, em Dung reo lên, chạy ào ra sân nhập bọn cùng lũ trẻ trong xóm, ngửa mặt lên trời tắm mưa.

Mẹ tôi hốt hoảng kêu lên. Tôi đội mưa lao ra, tóm cổ con bé lôi về. Tóc nó ướt lướt thướt dính bết quanh khuôn mặt gầy nhỏ, hàm răng sún nhe ra vô tư. Quần áo dán vào thân thể, hóa thành mỏng tanh, trong suốt như gương. Mẹ tôi ôm chầm lấy em, bọc nó vào trong cái khăn lông mà lau lấy lau để.

Cho thay quần áo rồi, chải tóc hơ chân rồi, mẹ tôi mới lấy cái thước kẻ lớn dần mạnh mấy lần vào bàn tay em. Em tôi rụt tay lại, khóc òa. Mẹ nghiêm giọng quát:

- Con gái nhà lành, ai cho lõa lồ tắm mưa như thế? Đánh thật đau cho nhớ!

Em Dung cứ tức tưởi khóc, hai con mắt to và đen cứ lấp lánh vẻ uất ức gan lì. Cái vẻ gan lì ấy làm hại nó. Mẹ tôi định tha, nhưng thấy vậy lại bắt em quỳ quay mặt vào vách. Tôi muốn xin cho em, muốn nói với mẹ rằng dù sao nó cũng chỉ mới là một con nhãi ranh còn chưa hỉ sạch mũi. Nhưng mẹ bảo tôi, mắt đỏ hoe:

- Măng non không uốn, để cứng thành tre làm sao uốn được?

Tôi lặng im. Khi nào cũng vậy, nhìn thấy đôi mắt rơm rớm của mẹ là tôi đầu hàng. Hồi tôi còn nhỏ cũng thế, nếu không sợ mẹ đau lòng thì tôi đã không đem đổ cả lũ tượng đất lớn nhỏ mà tôi hì hụi nắn được trong góc vườn. Bắt đầu biết nghịch đất sét, tôi đã mày mò nặn con chó, con mèo, nặn hình ông Thọ, cô tiên.

Các bạn rượu của cha tôi xoa đầu tôi mà bảo: "Con nhà tông chẳng giống lông cũng giống cánh", con của một họa sĩ thì tương lai rõ là một nhà điêu khắc rồi, không sai... Rất có thể điều tiên đoán ấy sẽ thành sự thật và tôi sẽ trở thành con kế nghiệp của cha tôi nếu một hôm tôi không khờ dại nặn ra pho tượng đất sét ấy.

Thấy nó, mẹ tôi choáng váng, nghẹn không nói được. "Huân, con làm gì thế này?" Bức tượng của tôi chỉ dài chừng ba tấc, đây là hình ảnh một người đàn bà không mặc quần áo. Năm đó tôi mười hai tuổi, với cục đất sét tôi thể hiện sự tò mò giới tính của tôi, và không quên dùng một nhúm tóc rối nhét vào giữa hai bắp vế pho tượng.

Mẹ tôi đập bể tan tành cái tượng ma quỷ đó. Tôi uất ức, vì đó chỉ là kết quả sự chiêm ngưỡng hồn nhiên khi một lần tôi tình cờ thấy mấy cô hàng xóm đi tắm ngoài bến nước. Mẹ tôi khóc không thành tiếng. Người cho đào hết bộng đất sét sau vườn đem đổ đi, thay vào bằng đất bùn lấy ở bờ sông sau mùa lũ. Bộng đất ấy dài bốn mét, sâu đến hai mét tư, khi vét xong để lại một lỗ trống toang hoác nơi góc vườn.

Người ta lấp đầy nó bằng đất thịt lấy ở triền sông. Ba tôi bảo: "Việc gì phải thế". Mẹ tôi chỉ nói: "Đất này trồng cây, trồng hoa tốt hơn". Từ lâu rồi mẹ tôi vẫn thường đối phó với ba tôi bằng cách dịu dàng lảng tránh như thế. Giữa ba mẹ tôi không bao giờ to tiếng, bởi người nhường nhịn lúc nào cũng là mẹ. Mẹ mảnh khảnh, nhỏ nhẹ, tối ngày cố xếp đặt căn nhà, khu vườn thật chỉn chu, ngăn nắp.

Ba tôi thì cao lớn, nóng nảy, ra vào trong cái trật tự của mẹ như một con ngựa chiến bị buộc trong chuồng. Từ ngày ấy, mẹ luôn đóng cửa phòng vẽ của ba tôi, nó đã trở thành một thế giới riêng đầy bí ẩn. Ngoài giờ ăn, ngủ, hầu hết thời gian ba tôi giam mình trong đó. Rồi ít lâu sau, người ngủ luôn ở đấy, hầu như không quay về phòng nữa.

Cuộc sống gia đình vẫn lặng thầm trôi đi trong êm ấm, và với tôi thế giới bên trong căn phòng vẽ vẫn là một thế giới bí ẩn đầy kích thích khiến tôi luôn tưởng tượng mà không dám đặt chân đến bao giờ.

Em Dung quỳ úp mặt vào tường, thật tội nghiệp. Tôi mua bánh chuối ram, gói trong miếng giấy, len lén đem vào cho em. Lúc đó tôi mới biết em đã không quỳ yên một chỗ như tôi tưởng. Em nhích dần dần đến bên cửa sổ, bây giờ em chẳng còn úp mặt vào bức vách mà đang nhìn ra sông. Gió từ ngoài thổi vào, làm tóc mai em bay nhẹ, em nheo mắt và cười, trong khi cao hứng em tì luôn hai khuỷu tay chồm lên cửa sổ như người ngắm cảnh.

"Thế mà gọi là chịu phạt đấy à? Mẹ thấy thì lại bắt quỳ thêm cho đến chiều!" Em giật mình, quay nhìn tôi, hơi e dè một lát rồi nhoẻn cười: "Suỵt, mẹ đang nấu ăn, không thấy đâu". Hai anh em quỳ bên nhau nhìn ra con đập. Con nước đầu mùa vẫn lồng lộn dưới chân kè đá. "Anh Hai ơi, sao mà mắt anh đỏ?". Em Dung hỏi, bàn tay nhỏ của em chạm lên má tôi. "Anh nhớ ba" "Ba ngày xưa ra sao hở anh?" Tôi lúng túng, không biết nói sao.

Thực tình là ba đã có nhiều điều không phải với mẹ. Nhưng tôi không thể không yêu ba tôi, không thể không cảm thấy mối liên hệ máu thịt và sức hấp dẫn kỳ lạ toát ra từ người đã cho tôi cuộc sống. Mỗi lần nhìn con đập này, tôi không sao quên được những ngày vừa ngớt cơn mưa đầu mùa, ba dẫn tôi lội nước đến bên bờ sông. Dòng nước đã vượt qua con đập, chảy xiết. Có năm nước dữ, một bên mé đập sạt đi những tảng lớn, sau mùa lũ người ta phải vá lại.

"Ba ơi, sao người ta không xây đập cao lên chừng năm tấc nữa cho nước khỏi tràn hở ba?". Tôi hỏi. Ba tôi cười, người cõng tôi lên vai cho nước khỏi làm ướt chân tôi. "Con đập là kỷ cương của dòng sông, nhưng nó không phải là chính dòng sông". Ba tôi nói, câu trả lời của người bay thoảng trong trí nhớ vô tư của tôi hồi ấy, đến giờ tôi vẫn nhớ nhưng chẳng hiểu thật sự người muốn nói gì.

Có lẽ đó là những giờ đáng nhớ nhất của hai cha con, vì ba tôi về sau này càng ngày càng lặng lẽ, nếu không giam mình trong phòng vẽ thì cũng đi giang hồ đâu đó, cho đến khi người mất đột ngột trong một chuyến ngao du. Tôi còn nhớ đấy là tháng cuối mùa mưa, tôi sắp tròn mười bảy tuổi.

Mẹ tôi một đời khổ hạnh, âm thầm, nhẫn nhục chỉ để được danh chính ngôn thuận đứng ở đầu quan tài cha tôi khi đưa người đến mộ. Tôi gói những cái cọ vẽ bỏ xuống huyệt cho cha tôi. Ở đằng xa, người đàn bà ôm đứa bé đứng co ro, khép nép, cái nón che nghiêng nửa mặt. Nhiều người ném về phía ấy những cái nhìn khinh rẻ, những cái nguýt, cái háy đầy vẻ lạnh nhạt.

Cô ta xin một chiếc khăn tang. Bà thím tôi trề môi: "Khăn tang gì mà khăn tang, ý nó muốn chia gia tài đó". Nhiều người rỉ tai mẹ tôi: "Đừng cho. Phải thử máu xem có chắc không cái đã". Mẹ tôi chỉ khóc, che mặt không dám nhìn. "Hỏi thằng Huân, nó là con trai, quyền huynh thế phụ" "Đừng cho, bây giờ mà cho, sau phiền phức lắm" - Tiếng người thì thào bên tai tôi. Tôi đau thắt, lòng ngổn ngang, cảm giác như có ai xô ập mình đến bên góc tường.

Người đàn bà ấy bồng đứa bé đến trước mặt tôi. Bất giác tôi đưa hai tay đón đứa bé vào lòng. "Mày điên sao Huân, đã nhắc cho mà biết...". Người nọ, người kia xì xào, có câu đầy mỉa mai: "Thằng này có căn tu, không chừng là Bồ Tát chắc. Mẹ đẻ ra mà không binh, đi nghe lời người dưng". Tôi không nói, ôm em vào lòng. Không cần phải thử máu, tôi thấy nơi khuôn mặt của đứa trẻ là ánh mắt dữ dội của cha tôi, những sợi tóc và đôi môi hoang dã của cha tôi...

Tôi đã không thành nhà điêu khắc mà trở thành một kỹ sư nông lâm, như mong ước của mẹ tôi. Mẹ chỉ muốn tôi sống một đời yên bình, không phải bước lên con đường nghệ thuật đầy sóng gió và bất trắc.

Tôi cũng thích nghề của tôi vì tôi yêu cỏ cây, yêu cái mầu xanh thẳm sâu từ đất hiện ra rồi vươn cao theo mưa nắng. Thuở đầu đời tôi cũng muốn đi thật xa, nhưng mẹ tôi rơm rớm nước mắt, thế là tôi ở lại... Mẹ ước ao sau này các con tôi lớn lên bên cạnh người, như cành lá từ cội mọc ra rồi lại rụng về cội, ấm cúng thân thương. Mẹ sợ tôi phải sống như ba tôi, người ở đây mà hồn bay xa đến tận nơi nào.

Khi ba tôi mất rồi, tôi mới đặt chân vào phòng vẽ. Những bức tranh người để lại đan kín trên các bức vách rộng, lộng lẫy và hoành tráng, đấy là cả một gia sản mà người để lại cho tôi. Mỗi bức tranh như một ẩn ngữ mà tôi, kẻ kế thừa, chưa có chiếc chìa khóa mật mã trong tay để giải thích. Nhưng cần gì, chẳng phải ngày xưa cha tôi thường bảo: "Cuộc đời là để sống chứ không phải để giải thích" hay sao?

Trong những bức tranh này có rất nhiều bức vẽ hình người đàn bà với da thịt lộng lẫy. Từ những mảng mầu trên ngực, trên môi, trên đôi tay mọc lên cây lá và cỏ hoa đầy sức sống: cái vẻ rực rỡ của mầu xanh cây cỏ, của mầu hồng da thịt này, tôi biết cội nguồn của nó. Hào quang lấp lánh ấy tôi đã thấy một lần nơi gương mặt người đàn bà đã trao em Dung cho tôi.

Có phải người đàn bà ấy đã đem đến cho cha tôi cái gia sản của sắc mầu và ngôn ngữ này? Có thể nói thế hay không, tôi cũng không biết nữa... Đôi khi tôi hoang mang tự nhủ: Lẽ nào tôi đang mắc nợ bà ấy sao, hay là bà ấy nợ tôi?
Trời ngớt mưa, tôi vội vã từ những cánh đồng Hương Thủy về thăm mẹ. Sân nhà sũng nước, mái hiên ngói cổ nhỏ từng giọt, từng giọt vẽ ra một hàng lỗ chỗ trũng xuống trên mặt đất.

Em Dung chạy ra đón tôi, hai cánh tay gầy như hai cái que ôm lấy cổ tôi, nhảy thót lên hông tôi cứ như thể em còn nhỏ lắm. Tôi bẹo má em:

- Lên mười rồi nghe, còn làm ra vẻ nhỏ em quá há.

Em cười, cầm tay tôi kéo vào phòng em, chỉ cho tôi những bức tranh mầu nước nguệch ngoạc. Em khoe: "Anh Hai ơi, em đi thi vẽ ở nhà Thiếu nhi, được giải nhất".

- Đâu nào, đưa anh coi, tranh mèo cào của Dung sao hên thế.

Em đưa cho tôi xem bức tranh em vẽ dòng sông đang chảy tràn qua con đập, với những con cá đang tung mình nhảy qua theo dòng nước. Những con cá có đôi *** rất nảy nở, như đang căng đầy sữa.

Tôi cười. Em bảo tôi: "Để cho cá con bú thật nhiều, cho nó mau lớn". Tôi nhìn một lát, gật đầu rồi cất bức tranh vào hộc bàn. "Xem chừng mẹ thấy thì chết". Em Dung nhìn tôi: "Sao thế, khi nhỏ em không bú mẹ sao?".

Tôi không trả lời, chỉ nhìn vào mắt em. Mắt em tôi có hàng mi dài và cong đen mướt như mắt di-gan. Tôi biết, mẹ tôi đã phí bao nhiêu công phu để dập tắt cái căn cơ hoang dã trong đôi mắt này. Nhưng vô ích. Tôi biết, rồi một ngày em sẽ ra đi...

Từ lúc yêu cây cỏ và đất đai, tôi cũng đã hiểu dòng sông và con đập. Tôi biết nếu không có con đập thì mỗi mùa mưa cả vùng đồng bằng phía nam sẽ trở thành vực xoáy tàn khốc, nhưng nếu con nước không tràn qua thì hoặc là vùng đất ấy sẽ khô thành hoang mạc, hoặc là con đập sẽ vỡ tan tành trong cuồng nộ của dòng sông mùa lũ.

Vì thế mà hằng năm con đập vẫn chịu đựng vết đau sạt lở. Nó chịu đau để được cùng tồn tại với sông...

Nguồn http://truyenhay.vn/dong-song-que-huong.html#ixzz4jFvFSqQy 
Bài viết từ : TruyenHay.Vn - Website đọc truyện hay online