Thursday, November 3, 2016

Những ngôi chùa trên thế giới - Chùa Phra Dhammakaya - Thái Lan

Chùa Phra Dhammakaya - Thái Lan


Minh Hạnh sưu tầm và dịch thuật

Là một ngôi chùa truyền thống Phật Giáo đã đóng vai quan trọng trong cộng đồng người Thái. Ngôi chùa là trung tâm giảng dậy luân thường đạo ly' và thực hành thiền quán để có thể giúp đỡ con người tăng trưởng nhân tâm và phát triển xã hội. Thực chất thật của ngôi chùa thi` không kiếm thấy ở b ên trong chùa mà là phục vụ cho đại chúng. Được chia làm hai thành phần như sau. Những người thích được vào chùa hàng ngày để làm công quả, nghe thuyết pháp, mong được những lời khuyên bảo cho những vấn đề khó khăn của họ. Thành phần thứ hai là những người chán cuộc sống gia đi`nh và muốn vào chùa để có cuộc sống tu tập. Thành phần sau thi` thường phải mất thời gian dài thử thách học tập sau đó mới được chính thức chấp nhận.
Chùa Phra dhammakaya là một trong 40,000 ngôi chùa tại Thái Lan. Ngôi chùa này duy tri` truyền thống của ngôi chùa nhưng biểu thị đặc điểm bởi sự gắn bó với thiền phái Dhammakaya của thiền định và giá trị của sự thích nghi tới đời sống xã hội.
Truyền thống Dhammakaya bắt đầu thành lập từ năm 1916 khi đại sư của chùa Wat Paknam là Thiền Sư Phra Monkolthempmuni, người đắc pháp thiền định và ngài quyết định phục nguyên truyền thống thiền định của Đức Phật. Thiền định là một pháp luyện tâm trí và đã trở thành pháp tu phổ biến ở Thái Lan nhờ sự giảng dậy của đại sư. Một trong những vị đệ tử nổi tiếng của đại sư là Sư bà Khun Yay Ubasika (Jan Kohn.nok.yung).
Chùa Phra Dhammakaya được Sư bà Khun Yay thành lập vào năm 1970 sau khi đại Sư Phra Monkolthempmuni viên tịch, khi Sư bà thấy rằng chùa Wat Paknam tại thành phố Bangkok trở nên quá nhỏ để đáp ứng số lượng đông đảo tín đồ đến tham dự các khóa tu Thiền ngày càng tăng . Sư bà Khun Yay cùng đệ tử là Thiền Sư Dhammajayo và Thiền Sư Dattajivo đã có ý muốn tiếp tục phát triển truyền thống Thiền Dhammakaya và thiết lập một ngôi chùa tôn nghiêm cho đại chúng trở về an trú trong thế giới hỗn loạn, bất an này.
Ngôi chùa được xây vào ngày Magha Puja, tức là ngày 20 tháng 2 năm 1970, trên một miếng đất rộng 80 acre do tín nữ Prayat Phaetayapongsa Visudhathibodi cúng dường. Địa điểm này, khoảng 16 cây số về phía bắc của phi trường Vọng Các, khởi thủy được gọi là 'Soon Buddacakk.patipatthamm'.  Một cánh rừng đã được kiến tạo để thay thế cho những ruộng lúa khô cằn, đó chính là khuôn viên dành cho người hành thiền.  Những toà nhà nơi đây được xây dựng rất giới hạn và nặng phần nghệ thuật, dễ bảo trì, sạch sẽ và chắc chắn.  Vào tháng 12 năm 1977 công chúa Maha Chakri Sirindhorn  đã  nhân danh vua Thái Lan để  đặt viên đá  đầu tiên cho toà chánh điện.  Việc này ghi dấu chính thức ngày khởi công xây ngôi chùa - Wat Phra Dhammakaya.

Đến năm 1982 thì chánh điện xây hoàn tất

Trong thời gian ngôi chùa được xây cất, Giáo hội Dhammadayada đã có một khoá thực tập thiền cho hàng trăm thiền sinh. Con số thiền sinh gia tăng đều đặn, 200 Tăng tu sĩ và 200 Sa Di, 90 cư sĩ nam và 160 cư sĩ nữ tham dự. Cũng trong thời gian này, trong những buổi tu học vào những ngày Chủ Nhật và những buổi lễ lớn số người tham dự lên tới 20,000 người. Do sự đông đảo của Phật tử mà sảnh đường Sapha Dhammakaya đã được xây cất.
Mặc dù nhận thức rằng việc xây trung tâm là quan trọng, chùa vẫn luôn luôn đặc biệt đặt sự tu tập vào tầm quan trọng. Trong 20 năm qua trung tâm Dhammakaya là nơi thu hút Phật tử ở Thái Lan và khắp nơi trên thế giới trở về tu học. Tổ chức Dhammakaya có 15 trung tâm và 22 chi nhánh tại các tỉnh của Thái Lan và hai trung tâm ở nước ngoài.
Từ khi truyền thống Dhammakaya bắt đầu, nội tâm thanh tịnh do sự hành thiền đã phản ảnh  nguyện vọng phát triển hoà bi`nh trên thế giới.  Hiển nhiên rằng công việc này cần đến sự  tham gia của mọi người chớ không phải chỉ một ngôi chùa và một số tăng lữ.  Với ly' do này, ngôi chùa đã được phát triển song song với tổ chức hổ trợ giáo hội Dhammakaya để thuận tiện cho các sinh hoạt rộng lớn hơn được góp tay bởi công chúng và bởi những hội viên cư sĩ của giáo hội. Với mục đích trên, chùa Phra Dhammakaya dự trù xây trung tâm Phật đài Dhammakaya trên mẫu đất rộng 1000 acres vào năm 1985 để ngỏ hầu tiếp ứng cho các nhu cầu của cộng đồng thế giới./.

Chuyện cười trong ngày

Con cái chúng ta

Một ông bố gương mẫu được lên phát biểu trước một hội nghị về kinh nghiệm nuôi dạy con tại Mỹ. Ông nói: “Tôi không bao giờ đánh con, tất nhiên, trừ trường hợp tự vệ”.

Wednesday, November 2, 2016

Ngày 2-11-2016 Suy Niệm Trong Ngày

Chuyện ngắn - Giúp đỡ

Giúp đỡ

Năm 18 tuổi, tôi sang Anh học Đại học. Và vẫn học đối mặt với nỗi đau quen thuộc, nỗi đau của một đứa trẻ mồ côi.

Một hôm, khi đang đi chợ, tôi thấy một cụ già đang loay hoay với một cây gậy và một túi táo với những quả táo đang thi nhau rơi khỏi túi. Tôi chạy đến đỡ lấy túi táo và nhặt từng quả vào túi cho ông.

- Cảm ơn cô bé. Ông ổn rồi! – Ông mỉm cười với tôi, đôi mắt sáng hiền từ.

- Cháu đi cùng ông nhé? – Tôi nói – Cháu sợ táo sẽ rơi nữa đấy!

Tình bạn của tôi với ông Burns, người có nụ cười ấm áp như cha của tôi bắt đầu như vậy.

Tôi xách túi táo, ông Burns tì cây gậy, lê từng bước khó nhọc. Đến nơi, tôi đặt túi táo lên bàn và đi pha trà, tôi hỏi ông liệu thỉnh thoảng tôi có thể đến thăm ông không.

Ngay hôm sau, tôi lại đến, lại giúp ông pha trà. Tôi kể cho ông nghe tôi là một đứa trẻ mồ côi, sống với họ hàng và giờ đây đi du học để tự lập. Ông chỉ cho tôi hai bức ảnh đặt trên bàn. Đó là bác gái Mary và cô con gái Alice của ông, hai người cùng mất trong một tai nạn cách đây sáu năm...

Tôi tới thăm ông Burns hai lần mỗi tuần, đúng giờ và đúng ngày. Khi đến, tôi thường thấy ông ngồi trên chiếc ghế to với cây gậy bên cạnh. Thấy tôi, ông cụ luôn vui mừng. Dù tôi tự nhủ rằng tôi đã đem lại niềm vui cho một ông già cô đơn, nhưng kì thực, tôi mới chính là người hạnh phúc nhất khi bước chân lên bậc cửa căn nhà này. Đơn giản là tôi được chia sẻ và có người lắng nghe những lời tâm sự của tôi.

Sau hai tháng, tôi đến thăm ông Burns vào một ngày khác với lệ thường. Tôi cũng không gọi điện thông báo trước vì nghĩ rằng mình sẽ gây một bất ngờ đặc biệt.
Và tôi thấy ông đang làm vườn, đang đi lại, đang cúi xuống, ngẩng lên, một cách dễ dàng không cần gậy! Liệu đó có phải là ông Burns mọi khi, lúc nào cũng tựa hẳn mình vào cây gậy? Ông Burns bỗng ngẩng lên và nhìn thấy tôi. Thấy rõ sự băn khoăn lẫn ngạc nhiên của tôi, ông vẫy tôi lại gần.

- Nào, cháu yêu quý, hôm nay để ông pha trà cho cháu... – Ông Burns dẫn tôi vào nhà.

- Cháu đã nghĩ... – Tôi bắt đầu

- Ông biết cháu nghĩ gì, cháu yêu quý. Lần đầu tiên cháu gặp ông ở chợ, ừ hôm đó đầu gối ông bị đau. Va phải cánh cửa ấy mà...

- Nhưng... ông lại đi lại bình thường... từ lúc nào?

- Ngay hôm sau –Ông cụ hấp háy mắt.

- Nhưng tại sao...? – Tôi lúng túng.

- Lần thứ hai cháu đến đây, cháu yêu quý ạ, đó là khi ông nhận thấy cháu mới buồn và cô đơn có thể tựa vào vai ông. Nhưng ông e rằng cháu sẽ không đến nữa nếu biết ông khỏe mạnh.

- Còn cái gậy thì sao ạ?

- À, cái gậy tốt! Ông hay dùng nó để chặn cửa hàng rào.

Ông Burns đã biến mình trở thành một người cần được giúp đỡ để giúp đỡ tôi như thế đấy. Đó là một cách tuyệt vời để một cô bé non nớt và nhạy cảm như tôi thấy mình thật mạnh mẽ.

Những câu chuyện ngụ ngôn hay

Sự bình yên

Một vị vua treo giải thưởng cho nghệ sĩ nào vẽ được một bức tranh đẹp nhất về sự bình yên. Nhiều họa sĩ đã cố công thể hiện tài năng của mình.

Nhà vua ngắm tất cả các bức tranh nhưng chỉ thích có hai bức và ông phải chọn lấy một. Một bức tranh vẽ hồ nước yên ả. Mặt hồ là tấm gương tuyệt mỹ vì có những ngọn núi cao chót vót bao quanh. Bên trên là bầu trời xanh với những đám mây trắng mịn màng. Tất cả những ai ngắm bức tranh này đều cho rằng đây là một bức tranh bình yên thật hoàn hảo.

Bức tranh kia cũng có những ngọn núi, nhưng những ngọn núi này trần trụi và lởm chởm đá. Ở bên trên là bầu trời giận dữ đổ mưa như trút kèm theo sấm chớp. Đổ xuống bên vách núi là dòng thác nổi bọt trắng xóa. Bức tranh này trông thật chẳng bình yên chút nào.

Nhưng khi nhà vua ngắm nhìn, ông thấy đằng sau dòng thác là một bụi cây nhỏ mọc lên từ khe nứt của một tảng đá. Trong bụi cây một con chim mẹ đang xây tổ. Ở đó giữa dòng thác trút xuống một cách giận dữ, con chim mẹ đang bình thản đậu trên tổ của mình... Bình yên thật sự.

"Ta chấm bức tranh này! - Nhà vua công bố - Sự bình yên không có nghĩa là một nơi không có tiếng ồn ào, không khó khăn, không cực nhọc. Bình yên có nghĩa ngay chính khi đang ở trong phong ba bão táp ta vẫn cảm thấy sự yên tĩnh trong trái tim. Đó mới chính là ý nghĩa thật sự của sự bình yên".

Tri Kiến Giác Ngộ - Minh Triết Trong Đời Sống

KHI GẶP TAI NẠN KHÉO SỐNG VỚI TAI NẠN, KHI CHẾT KHÉO SỐNG VỚI CÁI CHẾT 
LƯƠNG KHOAN
trích trong tập Mỗi Ngày Một Câu Chuyện Thiền của Thu Nguyệt Long Dận (Tàn Mộng Từ biên dịch&chú giải
Vào ngày mồng 6 tháng Giêng năm thứ 2 niên hiệu Thiên Bảo, Đại Ngu Lương Khoan (Daigu Ryôkan, 1758-1831) qua đời ở độ tuổi 74 giữa sự chứng kiến của người em là Do Chi và đệ tử Ni Trinh Tâm. Trước đó khoảng ba năm, có xảy ra trận động đất lớn ở địa phương Tam Điều , Việt Hậu (Echigo). Lương Khoan có viết lá thư gởi cho Sơn Điền Đỗ Cao (Yamada Tokô). Quả đúng như lời của ông trong thư, ông chết như ngủ vậy. Nguyên nhân chết là do bệnh kiết lỵ. Khi chết không có gì hơn cái chết. Ấy chính là phép hay để thoát khỏi tai nạn. Với tâm địa như vậy, Lương Khoan đã hát rằng:

"Thấy bóng mùa xuân hoa tản mạn,
Thu về hồng diệp lác đác rơi."

Chính bài di kệ này có ảnh hưởng không nhỏ tới bài kệ của vị tông tổ của Tào Động Tông (Soto-shu) là Đạo Nguyên (Dogen):

Xuân về hoa hạ phơi bày.
Thu mang trăng tuyết rụng đầy giá băng."

Điển Hay Tích Lạ - Đuốc hoa, hoa đèn

Đuốc hoa, hoa đèn

Đuốc hoa do chữ "hoa chúc" là đèn cầy, nến đốt trong phòng của vợ chồng đêm tân hôn. Tiếng "chúc" thời cổ là "đuốc" tức bó đóm to. Ngày nay gọi là "Hỏa bả".
Bó đuốc chưa đốt gọi là "tiêu". Đuốc châm lửa cầm tay gọi là "chúc". Đuốc lớn đóng cọc xuống đất mà đốt gọi là "đình liệu". Lệ xưa bên Tàu đời nhà Chu, khi đầu canh năm, vua sắp ra thị triều, thì ở trước điện đình, bày hai hàng hoặc sáp, hoặc đuốc để sáng đường cho bá quan vào triều.
Từ đời Lục triều, Đường, Tống có tục đốt hoa chúc trong lễ kết hôn. Về sau này, để nói việc chính thức kết hôn, người ta thường dùng hai chữ "Hoa chúc".
Hoa chúc đời Lục triều và đời Đường không biết phải là bó đuốc có kết hoa ở ngoài cho đẹp không? Riêng về đời Tống thì "Hoa chúc" vừa là đuốc hoa, lại vừa là nến sáp hoa. Sách "Mộng lương lục" đời Tống có chép: "Cô dâu xuống xe, mấy con hát cầm đuốc làm bằng cuống hoa sen đi trước đưa đường". Sách "Qui điền lục" của Âu Dương Tu đời Tống có chép rằng: Ở Đằng Châu có thứ hoa lạp chúc (thứ nến làm bằng sáp hoa) nổi tiếng nhứt, ở Kinh đô cũng không chế nổi.
Điều chắc chắn là từ thời cận kim, người Trung Hoa đều hiểu "chúc" là nến, chớ không hiểu là đuốc như thời cổ.
Và, từ nghĩa đuốc hoa, hoa chúc dần dần biến nghĩa thành nến hoa, đèn hoa.
Ta có câu:
Động phòng hoa chúc dạ,
Kim bảng quải danh thì.
"Động phòng hoa chúc" là những chữ thường được dùng để chỉ đêm động phòng đầu tiên của cô dâu chú rể. Trong phòng kín có đèn nến đốt trong đêm tân hôn. Dũ Tín, một thi hào đời Nam Bắc triều cũng có câu: "Động phòng hoa chúc minh", nghĩa là: "Phòng kín đuốc hoa sáng".
Trong tác phẩm "Đoạn trường tân thanh" của cụ Nguyễn Du, đoạn diễn tả hành động cục xúc lỗ mãng, ghẻ lạnh của tên Mã Giám Sinh đối với Kiều, sau cuộc truy hoan, có câu:
Tiếc thay một đóa trà mi,
Con ong đã mở đường đi lối về!
Một cơn mưa gió nặng nề,
Thương gì đến ngọc, tiếc gì đến hương.
Đêm xuân một giấc mơ màng,
Đuốc hoa để đó mặc nàng nằm trơ.
Mặc dù họ Mã không dám nhận Kiều là vợ vì sợ Tú Bà, nhưng Kiều là gái mới lớn lên, đêm này là đêm đầu tiên, để thay đổi con người của nàng sang một giai đoạn khác, mà nàng coi đó là đêm bắt đầu làm công việc vợ chồng với người đã bỏ tiền ra mua nàng. Có lẽ do đó mới có tiếng "đuốc hoa".
Cũng như khi Kiều được đoàn tụ gia đình sau 15 năm lưu lạc, Kim Trọng xin Kiều cùng chàng xe tơ kết tóc, Kiều từ chối bằng những câu:
Chữ trinh đáng giá nghìn vàng,
Đuốc hoa chẳng thẹn với chàng mai xưa!
Vì:
Thiếp từ ngộ biến đến giờ,
Ong qua bướm lại đã thừa xấu xa.
Bấy chầy gió táp mưa sa,
Mấy trăng cũng khuyết, mấy hoa cũng tàn!
Còn chi là cái hồng nhan,
Đã xong thân thế, còn toan nỗi nào?
Cho nên nàng:
Nghĩ mình chẳng hổ mình sao?
Dám đem trần cấu dự vào bố kinh!
Đã hay chàng nặng vì tình,
Trông hoa đèn chẳng thẹn mình lắm ru?
Từ nay khép cửa phòng thu,
Chẳng tu thì cũng như tu mới là!
"Đuốc hoa chẳng thẹn với chàng mai xưa", và "Trông hoa đèn chẳng thẹn mình lắm ru?", ý Kiều đã cho rằng dù Kim Trọng còn nặng lòng yêu nàng, nhưng nếu nàng bằng lòng lấy chàng, thì rồi đây đêm động phòng, nhìn đuốc hoa hay hoa đèn (đèn hoa) kia chẳng là hổ thẹn lắm. Vì nàng đã cùng ai ở dưới hoa đèn...; cũng như hoa đèn đã chứng kiến... thì khi nàng nhìn hoa đèn (đuốc hoa) làm sao lại khỏi thẹn với lòng mình!